Danh mục Tổ chức

quang phu cau

thai ngoc tuan

TRƯỜNG THPT TRẦN ĐĂNG NINH 40 NĂM TỰ HÀO VÀ TỎA SÁNG NIỀM TIN ( LƯỢC SỬ).

PDF.InEmail

LỜI NÓI ĐẦU

Nằm ở phía tây nam thủ đô Hà Nội, cực bắc của Huyện, trung tâm các xã  bắc  Ứng Hòa, Trường THPT Trần Đăng Ninh - mái trường thân yêu với bao kỷ niệm của các thế hệ thầy trò, đã để lại những bước chân vững chãi, song hành cùng với sự trưởng thành của  giáo dục Ứng Hòa và đang từng ngày vững bước đi lên trên quê hương anh hùng.

Trải qua những  thăng trầm của lịch sử, dẫu đã bao lần đổi thay về địa giới và tên gọi qua từng thời kì lịch sử, nhưng mảnh đất Ứng Hòa vẫn luôn in đậm trong bản đồ Việt Nam với tư cách là vùng đất “địa linh nhân kiệt”. Những tên đất, tên làng, những địa danh gắn với những huyền sử, những kì tích của các dòng tộc, danh nhân... đã  làm nên nguồn mạch truyền thống xứ sở. mảnh đất nơi đây đã hình thành nên cốt cách đáng quý của con người quê hương. Mỗi khi nhắc đến tên gọi Ứng Hòa, những người con của quê hương  luôn tự hào được sinh ra, lớn lên trên mảnh đất hiếu học, giàu truyền thống và kiên cường trước mọi thử thách. Giáo dục Ứng Hòa nói chung và Trường trung học phổ thông Trần Đăng Ninh nói riêng từ lâu đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong niềm tự hào ấy.

Trên mạch ngầm văn hóa, bao thế hệ người Ứng Hòa đã gây dựng và tiếp nối truyền thống, lặng thầm hy sinh, chắt chiu nguồn sống để hun đúc nên những giá trị văn hóa của quê hương. Hồi tưởng lại mạch sống trên trăm năm quê hương Ứng Hòa khó có thể hình dung hết những con người đã làm rạng danh quê hương. Trong khi đi tìm lịch sử của một mái trường mang tên Cấp 3 Ba Thá – THPT Trần Đăng Ninh, chúng tôi không dám lạm bàn đến những cơ sở lịch sử chân xác, chỉ xem đây là mảnh đất của cội nguồn văn hóa,  cơ sở  cho việc giáo dục, trồng người trên mảnh đất quê hương.

Trường THPT  Trần Đăng Ninh là mái trường được hình thành trong xu thế của lịch sử, đại diện cho một bậc học của huyện  từ năm 1977. Đi lên từ những năm tháng gian khó của quê hương, gắn bó với mảnh đất và con người quê hương; đến nay, trường đã thực sự trở thành đơn vị  Lao động xuất sắc của nghành GD&ĐT thủ đô; đạt chuẩn về chất lượng giáo dục bậc THPT. Sự trưởng thành, lớn mạnh của Trường  THPT  Trần Đăng Ninh  đã khẳng định được tầm vóc và vị thế của mình.

Thực hiện sự chỉ đạo của Sở Giáo dụcĐào tạo thành phố năm học 2017–2018, trường THPT Trần Đăng Ninh đạt chuẩn Quốc gia bậc THPT và “Điểm nhấn” là kỷ niệm 40 năm TL trường. Nhà trường xây dựng phòng truyền thốngBiên soạn Lịch sử của trường, Chi bộ, Ban Giám hiệu nhà trường đã phân công tổ bộ môn lịch sử, tổ chức biên soạn lịch sử của trường THPT Trần Đăng Ninh để xác lập lại chặng đường mà một ngôi trường đã đi qua với những đổi thay, có thể là những thăng trầm, có thể là những đóng góp không thể cân đo đong đếm được; điều quan trọng là làm sao để thể hiện được sức sống của mái trường  gắn bó với quê hương ; khái quát được những chặng đường hình thành xây dựng và phát triển, để từ đó làm cơ sở cho công tác hoạch định chiến lược giáo dục trên chặng  đường tiếp theo. Với cuốn Lịch sử này, chúng tôi không có tham vọng đặt ra những vấn đề lớn lao về lịch sử truyền thống quê hương cũng như quá trình hình thành nền giáo dục trước đây, chỉ xin phép được bắt đầu từ ngày thành lập trường năm 1977 đến nay, hy vọng  đem lại một bức tranh chân thực về  mái trường trong một giai đoạn lịch sử.

Trong tài liệu này, những tư liệu về các địa phương trên địa bàn  huyện được chúng tôi tuyển chọn từ những nguồn tư liệu khác nhau, một số được nhóm biên soạn điều chỉnh ít nhiều để phù hợp với mục đích của nội dung cuốn sách, phần khác do chính người biên soạn viết.

Ngoài lời giới thiệu còn có các nội dung: sơ lược về mảnh đất, con người, truyền thống  hiếu học của  quê hương , sự hình thành và phát triển của nhà trường qua các thời kỳ; những thành tích của nhà trường và  những bài học lịch sử qua quá trình xây dựng và phát triển.  Với nội dung và cấu trúc như thế, chúng tôi hi vọng giúp quý thầy giáo, cô giáo và các em học sinh có thêm một tài liệu hữu ích, thiết thực. Tuy vậy, đây là lần đầu tiên biên soạn, điều kiện thời gian và trình độ có hạn, các nhân chứng lịch sử còn chưa thật đầy đủ...cuốn Lịch sử  này chắc chắn sẽ còn những khiếm khuyết nhất định. Chúng tôi mong bạn đọc, nhất là quý thầy giáo, cô giáo, các học sinh đã từng công tác và học tập ở trường góp ý kịp thời để bổ sung, sửa chữa.

Qua cuốn lịch sử của nhà trường, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến UBND thành phố, Sở GD&ĐT Hà Nội; Đảng bộ và nhân dân huyện Ứng Hòa đã quan tâm, giúp đỡ về cả vật chất lẫn tinh thần để ngôi trường được sinh ra và lớn lên như hôm nay. Xin cảm ơn các thế hệ thầy cô giáo đã và đang công tác tại trường, từ những con người đặt viên gạch đầu tiên xây dựng nhà trường đầy gian nan vất vả đến đội ngũ tiếp nối đã và đang miệt mài đóng góp công sức, trí tuệ, lòng nhiệt tình, tâm huyết vun đắp cho sự nghiệp trồng người của nhà trường. Xin cảm ơn các thế hệ học sinh đã và đang ra sức học tập, rèn luyện, phấn đấu để tô thắm những trang sử vẻ vang trong truyền thống của trường.

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2017

HIỆU TRƯỞNG

Vũ Trí Thức

PHẦN I.

QUÊ HƯƠNG, MẢNH ĐẤT, CON NGƯỜI VÀ TRUYỀN THỐNG HIẾU HỌC CỦA MIỀN ĐẤT BẮC ỨNG HÒA.

1. Quê hương, mảnh đất, con người.

Ứng Hòa là huyện nằm ở phía nam thành phố Hà Nội, phía bắc giáp  huyện Chương Mỹ, Thanh Oai; phía đông  giáp huyện Phú Xuyên, huyện Kim Bảng, Duy Tiên (Hà Nam); phía Tây và Nam, giáp huyện Mỹ Đức.

Trong quá trình hình thành và phát triển, theo cuốn “Dư địa chí Ứng Hòa” đã có nhiều tên gọi khác nhau. Thời Bắc thuộc, Ứng Hòa thuộc  địa bàn huyện Chu Diên, quận Giao Chỉ (thời thuộc Hán), huyện Vũ Bình (Long Bình) quận Giao Châu (từ thời Ngô đến thời thuộc Đường). Ở các triều đại Đinh – Tiền Lê, Ứng Hòa nằm trong đạo Quốc Oai. Tên gọi Ứng Thiên xuất hiện từ thời nhà Lý, đến năm 1814 phủ Ứng Thiên đổi thành phủ Ứng Hòa. Năm 1831, dưới thời  Minh Mạng thuộc tỉnh Hà Nội. Năm 1896  thuộc tỉnh  Cầu Đơ. Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thuộc tỉnh Hà Đông. Năm 1965,  phủ Ứng Hòa đổi thành huyện Ứng Hòa thuộc  tỉnh Hà Tây;  tỉnh Hà Sơn Bình ( 1975), tỉnh Hà Tây ( 1991) và  thành phố Hà Nội  từ 2008 đến nay.

Khoảng từ 7000 năm đến 4000 năm cách ngày nay, tại mảnh đất Ứng Hòa đã xuất hiện sự quần cư của cộng đồng cư dân cổ mà dấu tích được chứng minh qua các di chỉ khảo cổ ở Đội Bình, Kim Đường, Hồng Quang, Phương Tú, Quảng Phú Cầu, Trường Thịnh,… Ngoài cư dân bản địa, trong quá trình lịch sử, Ứng Hòa cũng là nơi tiếp nhận nhiều luồng dân di cư  đến từ Thanh Hóa, Ninh Bình, Hải Dương, Phú Thọ, Sơn Tây,.. Cộng đồng dân cư của huyện Ứng Hòa đều là đồng bào dân tộc Kinh.

Huyện Ứng Hòa ngày nay có diện tích 183,7525 ha ( 2011), dân số là 192.877 người ( 2014), gồm 29 xã, 01 thị trấn. Nếu lấy thị trấn Vân đình làm trung tâm của huyện lỵ thì  các xã Viên An, Viên Nội, Hoa Sơn, Cao Thành, Sơn Công, Đồng Tiến, Trường Thịnh, Quảng Phú Cầu, Liên Bạt thuộc khu vực bắc Ứng Hòa. Đây là địa bàn tuyển sinh và là khu vực có con em nhân dân các xã theo học tại Trường THPT Trần Đăng Ninh.

Các xã vùng Bắc Ứng Hòa  là miền đất được hình thành từ xa xưa, gắn liền sự xuất hiện của con người thời từ thời  hậu kỳ đá cũ đến thời đại kim khí. Những dấu tích tên gọi cũ của các làng xã Bắc Ứng Hòa:  Kẻ Văn ( Viên Nội), Kẻ  Ngẩy, Kẻ Lau, Kẻ Lò ( Trường Thịnh), Kẻ Miêng ( Hoa Sơn), Kẻ Xốm ( Cao Thành), Kẻ Sóc, Kẻ Vĩnh ( Sơn Công), Kẻ Ngõ, Kẻ Lẽo ( Liên Bạt) , Kẻ Bưỡi ( Quảng Phú Cầu), kẻ Vật, Kẻ Đoàn ( Đồng Tiến) đã phản ánh lịch sử hình thành lâu đời của  vùng đất này, hầu hết đều ở giai đoạn sớm của công cuộc khai phá đồng bằng, cách ngày nay trên 2000 năm. Trải qua thời gian và sự biến thiên của lịch sử, cùng với sự thay đổi tên gọi phủ Ứng Thiên xưa, huyện Ứng Hòa ngày nay, tên gọi các xã Bắc Ứng Hòa ít nhiều có thay đổi qua các thời kỳ nhưng địa giới của các xã bắc Ứng Hòa hầu như không thay đổi.

Sinh sống trên vùng đất cổ, cư dân các xã bắc Ứng Hòa  đã có quá trình liên tục vừa khai phá đất đai, vừa kiên cường đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ bờ cõi và lãnh thổ cũng như chủ quyền, độc lập của đất nước. Cùng với quá trình lịch sử, những truyền thống đặc trưng dần được hình thành.

Trước hết là truyền thống đấu tranh anh dũng,kiên cường, bất khuất. Trong thời kỳ Bắc thuộc, các xã phía bắc Ứng Hòa là vùng đất có nhiều đóng góp cho thắng lợi của các cuộc khởi nghĩa chống phong kiến phương bắc. Mở đầu là Cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng Mùa xuân năm 40. Theo thần phả  làng Yên Trường, Trung Thịnh  xã Trường Thịnh đã ghi nhận  anh em Chiêu Trung, Đỗ Lỵ  là các  tướng của Hai Bà Trưng, khởi binh hưởng ứng. Thần phả xã Quảng Phú Cầu ghi công lao của  ba chị em Chiêu Nương, Nguyễn Hồng, Nguyễn Tuyền … Rồi  đình làng Phù Yên ( Viên An), thôn Giang, thôn Trung (Viên Nội) thờ tướng quân Lý Bí….Vào những năm đầu công nguyên, hai em của Châu trưởng Giao Châu Đặng Sỹ là Đặng Xá và Đặng Lang cũng đã làm dinh lũy chống giặc Hán và hy sinh tại Liên Bạt, đã được nhân dân lập đền thờ.

Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược nước ta, nhiều phong trào chống Pháp và chống triều đình phong kiến tay sai bùng nổ như cuộc kháng chiến của Lê Tư Khẩn hạ đồn Ba Thá (Viên An). Đầu thế kỷ XX, trước sự thất bại của các phong trào yêu nước, một số sỹ phu phong kiến tiến bộ như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, đã tiến hành cuộc vận động cứu nước. Phan Bội Châu, tổ chức phong trào Đông du đưa thanh niên Vệt Nam sang Nhật . Đóng góp vào phong trào chung đó có sự góp mặt của nhà chí sỹ yêu nước trên đất  quê hương băc Ứng Hòa, đó là cụ Nguyễn Thượng Hiền (làng bặt xã Liên Bạt ngày nay).

Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã mở ra thời kỳ mới trong lịch sử đấu tranh giành chính quyền của nhân dân cả nước, trong đó có nhân dân trong huyện nói chung và nhân dân bắc Ứng Hòa nói riêng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công tác chuẩn bị mọi mặt cho Tổng khởi nghĩa được tiến hành khẩn trương. Các căn cứ địa, an toàn khu, chiến khu được thành lập trong cả nước, trong đó phải kể đến Khu Cháy – ATK của trung ương, gồm các xã Nam Ứng Hòa. Sau khi thành lập, An toàn khu Khu Cháy đã trở thành căn cứ địa, an toàn khu của Xứ ủy Bắc Kỳ trong việc lãnh đạo nhân dân  tiến hành cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền, góp phần vào thắng lợi của cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, thực dân Pháp trở lại xâm lược nước ta. Các xã bắc Ứng Hòa nằm trong vùng tạm chiếm của thực dân Pháp. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy Ứng Hòa, thực hiện chủ trương phát triển chiến tranh du kích của Đảng, phong trào chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ tại các xã bắc Ứng Hòa, tiêu biểu như Viên Nội, Viên An, Hoa Sơn, Trường Thịnh. Nơi có các lô cốt của thực dân Pháp như  Ba Thá, Miêng Thượng, có những trận đánh lớn tập kích địch. Tiêu biểu trận đánh đồn Ba Thá, bắt sống 123 tên địch. Nhân dân các xã Bắc Ứng Hòa còn đóng góp sức người sức của phục vụ kháng chiến; huy động hàng nghìn nhân công tham gia các chiến dịch Việt Bắc, Biên Giới, Hòa Bình, Điện Biên Phủ.  Những đóng góp của quân, dân bắc Ứng Hòa cùng nhân dân cả nước đã góp phần vào thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ, buộc thực dân Pháp ký hiệp định Giơ - Ne – Vơ, 1954 kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Hòa bình vừa lập lại, đế quốc Mỹ lại điên cuồng tiến hành chiến tranh xâm lược miền Nam và chiến tranh phá hoại miền Bắc. Cùng với quân dân cả nước, quân dân Ứng Hòa nói chung, các xã bắc Ứng Hòa nói riêng đã ra sức chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến Miền nam, đấu tranh chống chiến tranh phá hoại Miền bắc, thực hiện tốt khẩu hiệu “ Thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, làm nên truyền thống “Quê hương chiếc gậy Trường Sơn”, góp phần to lớn vào thắng lợi chung của toàn dân tộc trong đại thắng mùa xuân năm 1975, non sông thu về một mối.

Anh dũng, kiên cường trong đấu tranh cách mạng, nhân dân các xã bắc Ứng Hòa với đôi bàn tay tài hoa, khéo léo cần cù, sáng tạo trong lao động. Nơi đây, các nghề thủ công, mỹ nghệ được hình thành từ rất sớm như  nghề đan các sản phẩm từ tre, giang  ở Trường Thịnh, Viên An, làm hương ở  Quảng Phú Cầu, làm đồ gốm ở Vân Đình, làm gạch ở  Thành Vật (Đồng Tiến), rèn sắt ở  Liên Bạt ,… Nằm ở vùng châu thổ sông Hồng, lại tiếp giáp vùng bán sơn địa, là địa bàn giao lưu qua lại giữa các vùng miền trong cả nước, gần với kinh thành Thăng Long xưa, con người các xã bắc Ứng Hòa đã khéo tiếp thu những nghệ thuật tinh hoa ẩm thực khắp các vùng miền, kết hợp với nguyên liệu và thực phẩm tại chỗ, làm nên những thương hiệu ẩm thực riêng không lẫn với bất cứ vùng miền nào như cháo vịt, thịt chó (Vân Đình), bún Bặt (Liên Bạt), cuốn tôm ( Viên Nội), Nem nắm, gỏi cá (Quảng Phú Cầu)  rượu Tử Dương ( Cao Thành), rượu Viên Nội, Viên ngoại(Viên An),…

Anh dũng, kiên cường  trong đấu tranh cách mạng; cần cù, năng động, sáng tạo trong lao động sản xuất xây dựng quê hương, mảnh đất bắc Ứng Hòa còn nổi tiếng là  một miền quê hiếu học.

2. Truyền thống hiếu học.

Là một vùng đất cổ, chứng kiến nhiều sự biến đổi của lịch sử dân tộc, cư dân các xã bắc Ứng Hòa  cũng như cư dân cả nước sớm hình thành những đặc trưng chung của dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội thuận lợi, cư dân nơi đây đã hình thành đặc trưng riêng trong đó nổi bật là truyền thống hiếu học. Có lẽ, xuất phát từ quan niệm “ Chữ là ngọc, thóc là vàng”( Dư địa chí Ứng Hòa). Truyền thống hiếu học của nhân dân phía bắc Ứng Hòa được hình thành từ lâu đời và sớm nổi tiếng là đất học, đất khoa cử. Do có nhiều người đỗ đạt và thành công trên  con đường khoa cử qua các thời kỳ đã làm cho các xã bắc Ứng Hòa trở thành một trong những miền quê văn hiến, đem lại niềm tự hào cho quê hương, làm rạng danh cho gia đình và dòng tộc, tạo tiền đề hình thành các làng khoa bảng. Nhiều danh nhân trưởng thành từ miền quê phía bắc đã có những đóng góp quan trọng đối với quê hương đất nước.

Nói đến truyền thống hiếu học của nhân dân các xã Bắc Ứng Hòa, phải nói tới các Làng khoa bảng nổi tiếng: Làng Bặt xã Liên Bạt, Làng Trung xã Viên Nội; Làng Cao Lãm xã  Cao Thành); Làng Quảng Nguyên, làng Xà Cầu xã Quảng Phú Cầu; Làng  Viên Ngoại xã Viên An.

Là xã cận kề  thị trần Vân Đình trung tâm của huyện Ứng Hòa, Liên Bạt từng nổi tiếng là đất học, đất khoa cử xứ Bắc Hà, tinh thần hiếu học đã trở thành một truyền thống đáng tự hào của nhân dân nơi đây. Từ trước công nguyên, Đặng Sỹ - Châu trưởng đất Giao Châu đã đến Liên Bạt mở trường dạy chữ. Từ đó đến nay, đất Liên Bạt đã có biết bao người đỗ đạt cao mang tài trí giúp đời, giúp nước và được ghi vào sử sách, tiêu biểu là các tiến sỹ: Bùi Tuấn, Nguyễn Thượng Phiên, Nguyễn Thượng Hiền, Bùi Bằng Thuận, Bùi Bằng Đoàn.Ngày nay, truyền thống hiếu học của mảnh đất Liên Bạt được các thế hệ tiếp nối và phát huy.

Theo cuốn “ Dư Địa chí Ứng Hòa”, xã Viên Nội là một vùng đất cổ, thuộc  tổng Viên Nội, huyện Chương Đức, Phủ Ứng Thiên. Viên Nội còn có tên gọi khác là “Kẻ Văn”.  Từ “Kẻ Văn” cho thấy đây là vùng đất khoa bảng, hiếu học. Trong 29 vị tiến sỹ toàn huyện Ứng Hòa đỗ đạt thời phong kiến được lưu danh ở Văn Miếu Hà Nội, Viên Nội có 06 người đỗ đạt, đứng hàng cao nhất trong huyện.  Đó là các tiến sỹ Nguyễn Bá Ký, Nguyễn Bá Kỳ, Phạm Nại, Nguyễn Đạt Minh, Nguyễn Danh Thế, Lê Hưng Nhân. Trong 6 tiến sỹ của làng Viên Nội, có hai anh em ruột cùng đỗ tiến sỹ là Nguyễn Bá Ký và Nguyễn Bá Kỳ, có hai người cùng đỗ một khoa thi là Nguyễn Bá Kỳ và Phạm Nại. Đây đều là những sự hiếm gặp trong lịch sử khoa bảng Việt Nam.

Xã Cao Thành là một miền đất được hình thành từ lâu đời, gồm hai thôn là Tử Dương và Cao Lãm, một xóm là Cát Vân. Cao Thành đặc biệt nổi tiếng là mảnh đất giàu truyền thống khoa bảng, tôn sư trọng đạo và đề cao chữ thánh hiền. Từ thời phong kiến, Cao Thành đã có nhiều người học hành, thi cử, đỗ đạt cao và giữ các chức vụ quan trọng của triều đình. Theo văn bia còn lưu lại đến ngày nay, tại thôn Cao Lãm đã có 99 người đỗ đạt tại các kỳ thi Hương, thi Hội, thi Đình; trong đó có 4 người đỗ Tiến sỹ, 36 người đỗ Cử nhân, 58 người đỗ Tú tài. Tại văn Miếu Quốc Tử Giám Hà Nội, xã Cao Thành hiện có 4 vị Tiến sỹ được lưu danh trên các văn bia là Trần Di, Nguyễn Duy Đôn, Mai Danh Tông và Mai Nghĩa Chính (Mai Trọng Tương), trong đó có 3 cậu cháu cùng làm quan một triều, đó là Nguyễn Duy Đôn, Mai Danh Tông và Mai Trọng Tương, được người đương thời gọi là “Tam tiến sỹ đồng triều”. Đây là niềm tự hào, một nét đẹp góp phần ghi tạc vào truyền thống văn hóa lâu đời của nhân dân xã Cao Thành.

Trên địa bàn các xã miền bắc Ứng Hòa, xã Quảng Phú Cầu gồm các làng Quảng Nguyên , Đạo Tú,  Phú Lương Thượng, Phú Lương Hạ, làng Bầu, làng Bỏi và làng Xà Cầu. Đây là vùng đất sớm có cộng đồng dân cư sinh sống, và đời sống kinh tế - xã hội cũng đã phát triển từ sớm. Là vùng quê hình thành và phát triển từ lâu đời, Quảng Phú Cầu đã sớm hình thành truyền thống hiếu học, thôn nào cũng có văn chỉ, học điền. Nhờ có nhiều người đỗ đạt nên làng Quảng Nguyên được vua ban tặng 4 chữ vàng “Mỹ Tục Khả Nhân”  và Xà Cầu được tặng 5 chữ vàng “Xà Cầu Xã Nghĩa Dân”. Văn bia ở Xà Cầu còn ghi lại, vào thời vua Lê Thánh Tông làng có hai người đỗ đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân, là các cụ Phạm Hòa Xuân (1487) và Nguyễn Hà Thục (1490). Hay, cụ Lý Đình Cao cũng ở Xà Cầu làm nghề bốc thuốc và dạy học nổi tiếng, đã từng chữa bệnh cho vua Tự Đức và giữ chức Đốc học tỉnh Sơn Tây…Ngoài những người đỗ đại khoa thì số lượng người đỗ Cử nhân, Hương cống, Tú tài ( Trung khoa) ở Quảng Phú Cầu có rất nhiều. Riêng thôn Quảng Nguyên, theo gia phả một số dòng họ thì vào thời Lê đã có 28 vị đỗ cử nhân, tú tài, còn trong 40 vị đỗ Cử nhân, Hương cống của huyện Ứng Hòa thời Nguyễn thì Quảng Phú Cầu có 9 vị, đặc biệt dòng họ Nguyễn Bá có tới 5 người là bố, con, chú, cháu, anh, em đều đỗ đạt.

Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ huyện Ứng Hòa, đảng bộ các xã miền bắc, truyền thống hiếu học được các thế hệ nhân dân tiếp nối , góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước.  Hiện nay, hầu hết các xã đã thành lập các Hội khuyến học, khuyến tài; xuất hiện ngày càng nhiều mô hình “ gia đình hiếu học”, “ dòng họ khuyến học”. Điều này thể hiện rõ nét sự quan tâm thật sự của gia đình, cộng đồng, làng xã đến việc học tập của con em mình.

Trường THPT Trần Đăng Ninh vinh dự, tự hào được ra đời và phát triển trên quê hương là mảnh đất phía bắc Ứng Hòa giàu truyền thống cánh mạng và  hiếu học. Đó là nhân tố hết sức quan trọng tạo nên nguồn cội và sức mạnh cho những trang sử vẻ vang của nhà trường trong quá trình phát triển.

PHẦN II.

NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG LỊCH SỬ.

CHƯƠNG I.  BƯỚC KHỞI ĐẦU ĐI LÊN ĐẦY KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH

(1977 – 1987).

Sau khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, miền Bắc nước ta được hoàn toàn giải phóng, bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội và làm nghĩa vụ hậu phương cho miền Nam tiền tuyến. Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội đòi hỏi cần có những con người vừa hồng, vừa chuyên. Việc đào tạo nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trở thành yêu cầu cấp bách. Đáp ứng yêu cầu đó, trên khắp miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hàng loạt các trường cấp 3 được thành lập. Tại khu vực Ứng Hòa và Mỹ Đức, các trường cấp 3 lần lượt được hình thành: Cấp 3 Ứng Hòa A (1960), cấp 3 Ứng Hòa B (1967), cấp 3 Mỹ Đức A (1965).

Trước đòi hỏi của lịch sử và sự phát triển mạnh mẽ của giáo dục về cả quy mô và số lượng học sinh,  năm 1972, trường cấp 3 Mỹ Đức  mở  phân hiệu tại  thôn  Đoan Nữ, xã An Mỹ ( nay là địa điểm trường THPT Mỹ Đức B). Ban giám hiệu Trường Mỹ Đức A phân công Thầy Nguyễn Văn Khuyến hiệu phó,  phụ trách phân hiệu An Mỹ.

Năm học 1972 – 1973 là năm học đầu tiên của phân hiệu An Mỹ. Lúc này chỉ có 6 lớp  hệ giáo dục phổ thông 10 năm. Phòng học chưa có, phải học nhờ Trường cấp 2 An Mỹ.  Từ năm học 1973 – 1974, phân hiệu An Mỹ bắt đầu có học sinh  tốt nghiệp.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử dân tộc, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tỉnh Hà Tây và Hòa Bình hợp nhất thành  tỉnh mới,  tỉnh Hà Sơn Bình. Năm 1976, Ty giáo dục Hà Sơn Bình đã quyết định chuyển phân hiệu An Mỹ ( Mỹ Đức) về Ba Thá ( Viên An - Ứng Hòa) và ra quyết định thành lập Ban phụ trách trường do thầy Nguyễn Văn Khuyến làm trưởng ban, các thầy Nguyễn Văn Minh, Lê Xuân Mai, Trần Ngọc Thụy làm ủy viên.

Địa danh Ba Thá – miền đất thuộc  xã Viên An, điểm cực Bắc của huyện Ứng Hòa,  trên ngã ba sông của 3 huyện Ứng Hòa, Chương Mỹ và Mỹ Đức; Từ Ba Thá, theo dòng sông Đáy có thể xuôi Hà Nam, Phủ Lý, Ninh Bình, ngược có thể ra Hà Đông, Hà Nội thuận tiện. Còn theo đường bộ, có thể theo đường 73 xuống thị trấn Vân Đình rồi qua Quốc Lộ 1 đi Phủ Lý, Hà Nam,… theo đường 429 qua Miếu Môn ra Quốc lộ 21 đi Hòa Bình, Phú Thọ, Sơn La, theo phía Đông ra quốc lộ 22 rồi ra Hà Đông, Hà Nội... Với những đặc điểm tự nhiên và xã hội,  Ba Thá nằm trong vành đai của vùng đất khoa bảng và hiếu học với các  làng khoa bảng hiếu học nổi danh như Viên Ngoại, Viên Nội, Cao Lãm, Liên Bạt, Quảng Phú Cầu;  sớm trở thành trung tâm văn hóa giáo dục  và mở ra khả năng hình thành trung tâm kinh tế, văn hóa.

Trước sự phát triển ngày càng nhanh cả về quy mô lẫn số lượng học sinh theo học, phân hiệu Ba Thá không còn phù hợp nữa. Thể theo nguyện vọng của của Đảng bộ, chính quyền, nhân dân Huyện Ứng Hòa và giám hiệu Trường Cấp III Mỹ Đức A, ngày 16 tháng 4 năm 1977, thay mặt Bộ giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thứ trưởng Bộ Giáo dục Hồ Trúc đã ký quyết định số 491  thành lập trường cấp 3 Ba Thá và giao cho Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Sơn Bình, ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa chịu trách nhiệm trong việc chọn địa điểm, hỗ trợ kinh phí xây dựng trường cấp 3 Ba Thá. Với việc đặt trường tại Ba Thá, vùng đất ngã ba sông - Trường cấp 3 Ba Thá giờ đây có sứ mệnh nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực  và bồi dưỡng nhân tài cho các xã giáp ranh của 4 huyện   Ứng Hòa,  Mỹ Đức, Chương Mỹ và Thanh Oai . Đây là niềm tự hào của thầy và trò nhà trường, niềm vui và sự phấn khởi của nhân dân. Nhưng, cũng từ đây một thời kỳ  lịch sử mới đầy khó khăn, thử thách mở ra đối với Trường Cấp III Ba Thá giai đoạn 1977 – 1987.

Ban giám hiệu Trường Cấp III Ba Thá lúc đầu gồm thầy Nguyễn Văn Khuyến – Hiệu trưởng. Các Thầy: Nguyễn Văn Minh; Lê Xuân Mai P.Hiệu trưởng. Tiếp đó là Thầy Nguyễn Đức Vĩnh; Thầy Đỗ Đức Phong; Trần Ngọc Thụy và sau này Thầy Tạ Thiện Ngọ. Chi bộ Đảng nhà trường được thành lập năm 1977 theo quyết định số 150 ngày 08 tháng 4 năm 1977 của Ban chấp hành tỉnh Đảng bộ Hà Sơn Bình. Huyện ủy Huyện Ứng Hòa ra Quyết định số 92, ngày 17 tháng 4 năm 1977 chuẩn y cấp ủy gồm Thầy Nguyễn Văn Khuyến  Bí thư, thầy Lê Văn Duật phó bí thư; thầy Nguyễn Thế Nghiêm chi ủy viên.

Chủ tịch công đoàn nhà trường đầu tiên thầy Lê Văn Duật. Tiếp đến thầy Nguyễn Thế Nghiêm, Nguyễn Đức Vĩnh, Nguyễn Duy Thái, Đặng Văn Tích và sau này thầy Phạm Xuân Hoa.

Tổ chức Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Trường cấp III Ba Thá, lúc đầu có trên 200 đoàn viên được sinh hoạt tại 6 chi đoàn học sinh và một chi đoàn giáo viên. Bí thư đoàn trường là Thầy Trần Xuân Yêm; tiếp đến Thầy Nguyễn Đức Vĩnh, Nguyễn Khăc Thành, Tạ Thiện Ngọ, Dương Văn Hướng và sau này  là Thầy Đỗ Ngọc Anh.

Đội ngũ giáo viên của trường trong năm học đầu tiên gồm 35 thầy cô nhưng đến năm học 1979 – 1980, đã có trên 50 thầy cô giáo. Các thầy cô giáo từ phân hiệu An Mỹ chuyển lên  đa số ở các huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức, Chương Mỹ như thầy Khuyến, thầy Yêm, thầy Mai, thầy Đô, thầy Thụy,  thầy Vĩnh, thầy Phong, thầy Ngọ, thầy Phổ, thầy Thuận, cô Xoan..…, còn lại là từ Hà Nội  về công tác  như các thầy Long, thầy Tâm, thầy Dân, thầy Các… các cô như cô Liễu, cô Chi, cô Hà, cô Hảo, cô Thanh, cô Nga, cô Thủy, cô Oanh,  cô Hoàn, cô Ngọc, cô Thơ,….Xa hơn nữa là từ Thái Bình, cô Trinh,  rồi từ Thanh Hóa, thầy Cừ, cô Vui cũng góp mặt trong đội ngũ giáo viên đầu tiên của trường cấp 3 Ba Thá. Các thầy cô giáo được biên chế trong các tổ chuyên môn: Tổ toán  thầy Thịnh, thầy Khuê, thầy Thạo, thầy Long, thầy Tấn, thầy Các, thầy Tâm, cô Hậu, cô Thủy,…Tổ lý thầy Thuận, thầy Minh, thầy Ngọ, cô Thu, cô Oanh…tổ Hóa – Sinh – KTNN  thầy Bích, thầy Vĩnh, thầy Trịnh, cô Dung, thầy Thanh,…Tổ Ngoại Ngữ - TD  thầy Anh, thầy Lập, thầy Phụ, cô Chi, thầy Tân, cô Nghiêm, cô Xoan, thầy Phổ,…Tổ Chính trị  thầy Thái, thầy Nghiêm, thầy Phong,.. Tổ Sử - Địa  thầy Tự, thầy Tạ Công, thầy Hướng, thầy Tạ Sinh, cô Hải, cô Hà,…Tổ Hành chính chú Tiền, chú Dư, chú Phụ, cô Bích, cô Thê, cô Hương chú Vĩnh,chú Tiên, chú Nhâm, chú Bính, chú Hàm,…Toàn bộ  giáo viên của nhà trường đều có trình độ đại học, đáp ứng tốt yêu cầu của sự nghiệp giáo dục.  Cán bộ hành chính hầu hết  là công nhân viên chức, bộ đội chuyển ngành.

Trong năm học đầu tiên 1977, nhà trường có 6 lớp với trên 260 học sinh chủ yếu là con em các xã Viên An, Viên Nội, Cao Thành, Sơn Công (Ứng Hòa); Phúc Lâm,Thượng Lâm, Bột xuyên,Đồng Tâm, Tuy Lai (Mỹ Đức); Đồng Phú, Hòa Chính, Thượng Vực (Chương Mỹ). Đến năm học 1979 – 1980, trường đã có 16 lớp với gần 1000 học sinh, con em nhân dân của các xã  giáp ranh thuộc 4 huyện Ứng Hòa, Mỹ Đức, Thanh Oai, Chương Mỹ và các nông trường, xí nghiệp trong vùng

Ra đời vào thời điểm đất nước vừa bước ra khỏi chiến tranh khó khăn chồng chất, nên mặc dù được UBND tỉnh Hà Sơn Bình, UBND huyện Ứng Hòa rất quan tâm, nhưng  cơ sở vật chất nhà trường là hết sức khó khăn và thiếu thốn.

Ngày 5 tháng 3 năm 1976, với sự chứng kiến của đại diện Ty Công nghiệp, Ty giáo dục và Ty tài chính Hà Sơn Bình, phân hiệu Ba Thá tiếp quản toàn bộ hệ thống cơ sở vật chất của Xí nghiệp Nông sản Ba Thá - tên thường gọi là Công ty dâu tằm tơ Ba Thá, sau đó là xưởng sản xuất ma ri - xì dầu Ba Thá, thuộc Ty Công Nghiệp Hà Tây đã giải thể năm 1975. Gọi là xưởng, nhưng đã giải thể nên hầu hết cơ sở vật chất đều xuống cấp nghiêm trọng. Mặt khác, do thiết kế để phục vụ sản xuất nên hệ thống cơ sở vật chất  không phù hợp với hoạt động dạy và học của trường. Hệ thống sân trường hư hỏng hoàn toàn.  Các nhà kho chứa nguyên liệu, kho thành phẩm, nhà sấy nguyên liệu, nhà sản xuất,… cũ nát. Các phòng dùng để dạy học, cửa ra vào, cửa sổ, hệ thống kèo cột, mái nhà mục nát. Bàn ghế  giáo viên và học sinh không có. Tháng 10 năm 1978 sau hồi trống kết thúc tập thể dục rung lên toàn bộ trần 3 lớp học đổ sập, nhưng không có tai nạn về người.

Để chuẩn bị cho năm học đầu tiên của trường cấp 3 Ba Thá, ngay từ khi tiếp nhận, công tác cải tạo đã được xúc tiến với tốc độ khẩn trương và tinh thần lao động hết mình của thầy, trò nhà trường và nhân dân trong khu vực. Bàn ghế được chuyển một phần từ phân hiệu An Mỹ ( Mỹ Đức) lên bằng sức lao động của học sinh. Sáng đi học, chiều lao động, không khí lao động như một đại công trường. Phương tiện như ô tô không có, xe cải tiến rất hiếm nên chủ yếu là học sinh phải vận chuyển bằng cách khênh, chở bằng xe đạp thồ trên chặng dường dài gần chục km. Ngoài vận chuyển bàn, ghế, học sinh còn phải vận chuyển gạch, ngói và các vật liệu xây dựng. Thật khó có thể tái hiện hết không khí của những buổi lao động chuyển trường nhưng chắc hẳn trong ký ức của nhiều thế hệ học sinh Ba Thá, ai cũng nhớ như in những kỷ niệm của các buổi lao động dưới trời mưa, đường trơn, học sinh thay nhau ‘vồ ếch” ì oạch; ngày nắng mồ hôi nhễ nhại  nhưng ai nấy đều vui. Các thầy Nguyễn Văn Khuyến, thầy Nguyễn Văn Minh, thầy Lê Xuân Mai… thường xuyên phải ở lại trường.

Công cuộc cải tạo nhà xưởng thành lớp học cũng được sự ủng hộ hết lòng của các bậc phụ huynh, của UBND các xã, đặc biệt các xã xung quanh khu vực nhà trường như Viên An, Viên Nội ( Ứng Hòa), Cao Dương, Xuân Dương (Thanh Oai), Đồng Tâm, (Mỹ Đức),Trần Phú ( Chương Mỹ)…. xã thì giúp gạch, xã thì giúp cây, giúp công thợ mộc, thợ xây. Tất cả đều mong muốn cho con em mình sớm có một ngôi trường như mong ước, để các em học sinh đỡ phải đi xa với bao vất vả, khó khăn của thời kỳ “cơm trộn sắn, khoai, rau là chính”.

Nhờ nỗ lực không mệt mỏi của các thầy giáo, cô giáo, các  học sinh và các lực lượng xã hội, hình dáng của một ngôi trường cũng đã bắt đầu được định hình. Nằm bên cánh đồng dâu, phía trước là chợ Thá và dòng sông Đáy; kề bên  trại chăn nuôi kiêm chế biến của Công ty Nông sản Ba Thá, ngôi trường đã hiện lên. Đường dẫn vào trường hai bên là hàng rào ô rậm rạp, khoảng 200m là cổng trường cánh sắt đơn gắn biển với dòng chữ: Ty Giáo dục Hà Sơn Bình – TRƯỜNG CẤP III BA THÁ. Khuôn viên của trường những cây bàng, cây nhãn cổ thụ. Một dãy nhà hình chữ U  trong đó gồm khu làm việc của Ban giám hiệu và Hội đồng giáo dục, hai bên là các phòng học được cải tạo từ các nhà xưởng cũ nát. Các phòng học được lợp bằng ngói sông cầu hoặc phủ bằng giấy dầu. Phòng làm việc của Ban giám hiệu còn thiếu, các thầy hiệu phó chung nhau một phòng làm việc.

Để góp phần tháo gỡ tình trạng thiếu phòng học ngoài việc phải học hai ca,  nhà trường chủ trương đẩy mạnh công tác xã hội hóa, vận động các xã có con em học tại trường, mỗi xã xây dựng một lán học cho học sinh bằng vật liệu tự góp của địa phương tổ chức phong trào thi đua giữa các xã nhằm đẩy nhanh tiến độ và chất lượng công trình.. Do điều kiện của từng địa phương nên các lán học  đa dạng, có lán lợp ngói sông cầu nhưng, nhiều lán chỉ lợp gianh, vách tre trát bùn đất. Dù còn đơn giảnthậm chí còn tạm bợ, nhưng khó khăn thiếu  phòng học cũng sớm được khắc phục.

“Dâu tàn kén bỏ đi rồi

Lò magi hóa thành nơi học đường

Thầy trò bốn huyện tám phương

Quây quần tụ hội thành trường cấp 3…”

(Thương Ba Thá – thầy Phạm Việt Long, giáo viên Văn cấp 3 Ba Thá).

Bên cạnh công tác chỉ đạo xây dựng và cải tạo cơ sở vật chất, Chi bộ đảng nhà trường chú trọng công tác tổ chức, công tác chỉ đạo chuyên môn, xây dựng nề nếp dạy và học. Trong công tác tổ chức. Chi bộ đặc biệt quan tâm việc phát triển đảng viên mới, chú trọng cả về  số lượng và chất lượng; nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu của đảng viên, nâng cao sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng. Qua ba năm xây dựng, trưởng thành, đến năm học 1979 – 1980, Chi bộ đảng Trường cấp 3 Ba Thá đã có 20 đảng viên sinh hoạt ở 3 tổ đảng. Một trong những chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị nổi bật trong giai đoạn này là  đề ra  chủ trương tổ chức các lớp học dành riêng cho con em liệt sỹ, thương bệnh binh. Từ năm học 1978 1979 đến năm học 1979-1980 ,  nhà trường đã mở được hai lớp  do thầy Nguyễn Trọng Anh và thầy Đoàn Quang Tâm phụ trách. Để duy trì nề nếp chuyên cần của học sinh, nhà trường chủ động liên hệ với nhân dân xung quanh trường cho học sinh ở trọ và vận động các em ở xa đến ở. Việc quản lý học sinh được nhà trường chú trọng với nhiều biện pháp như  nề nếp truy bài đầu giờ; cấm bỏ giờ, trốn học. Tổ chức các buổi học thêm bồi dưỡng cho học sinh học lực yếu vào ban đêm. Để làm tốt mối liên hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội thời kỳ này là  tổ họp phụ huynh theo địa bàn các xã. Nhà trường cử giáo viên chủ nhiệm cụm , các giáo viên này chủ động liên hệ địa điểm, xây dựng kế hoạch và đứng ra tổ chức, BGH đến dự. Các cuộc họp  có thể được tổ chức các ngày trong tuần mà không ảnh hưởng gì đến hoạt động chung..

Trong thời kỳ ở Ba thá công tác Công đoàn được  tạo điều kiện về mọi mặt. Hàng năm,  công đoàn đã làm tốt việc xây dựng khối đoàn kết nội bộ và chăm lo đời sống vật chất, đời sống tinh thần của cán bộ, giáo viên. Trong thời kỳ bao cấp, đời sống của  nhân dân , đặc biệt là cán bộ, công chức, viên chức gặp rất nhiều khó khăn. Trong bối cảnh ấy, để đảm bảo cuộc sống và gắn bó với nghề, nhiều thầy cô giáo đã phải làm thêm rất nhiều nghề để ổn định cuộc sống. Các thầy cô ở Hà Nội phải tranh thủ những lần về thủ đô mang một số hàng hóa ở quê như thịt lợn, trứng gà,.. ra bán, để rồi  về trường lại mang theo vải vóc quần áo  về  để trao đổi. Các thầy cô ở tập thể  thì tranh thủ từng giờ sau tiết dạy:

“….Thầy cô tôi kiếm củi, trồng rau

Đêm giá lạnh tay trần mài sắn

Ngày giảng bài bụng đói, lòng đau…”

( Thơ Đào Tiến – Cựu học sinh trường cấp III Ba Thá)

Vượt lên những khó khăn, gian khổ, nhiều thầy cô đã trưởng thành trên bục giảng. Đặc biệt, theo yêu cầu của công tác tổ chức, nhiều thầy cô đã chuyển nghành đến các cơ quan của đảng, nhà nước và đảm nhiệm những vị trí quan trọng. Thầy Nguyễn Ngọc Bích Hiệu trưởng trường THPT Chương Mỹ B, Thầy Phạm Thiện Tấn Huyện ủy Mỹ Đức, Thầy Nguyễn Khắc Thịnh Ban dân vận tỉnh Hà Tây, thầy Dương Văn Hướng Hiệu trưởng trường THPT Mỹ Đức B...

Được sự quan tâm chỉ đạo của Ban chi ủy, Ban giám hiệu nhà trường, tổ chức Công đoàn nhà trường đã có nhiều biện pháp cụ thể nhằm tháo gỡ khó khăn, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, giáo viên. Các thầy trong Ban chấp hành Công đoàn thường phải cắt cử nhau về các địa phương có con em theo học để vận động Đảng ủy, chính quyền giành một phần ruộng cấy lúa cho các thầy cô mượn để tăng gia sản xuất.  Đảng ủy và chính quyền các xã như Tuy Lai, Viên An, Viên Nội, Hòa Chính,… đã sẵn sàng giành cho các thầy cô nhiều mẫu ruộng. Phụ huynh và các em học sinh  tình nguyện xin được cày, bừa, cấy, gặt giúp các thầy cô giáo. Các cô gốc Hà nội như cô Hậu, cô Liễu, cô Nga,… cũng  nhận ruộng, canh tác như những người nông dân thực thụ. Vào các dịp như ngày Nhà giáo Việt Nam ( 20/ 11), tết âm lịch, ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3),  thi Tốt nghiệp hàng năm, Công đoàn nhà trường đều cử người đi các xã Bột Xuyên, Viên Nội, Tuy Lai, Xuân Dương, Quảng Bị…xin hỗ trợ lương thực, thực phẩm cho nhà trường.

Công tác Đoàn và phong trào thanh niên thời kỳ ở Ba thá do các thầy Nguyễn Xuân Yêm, Nguyễn Đức Vĩnh, Nguyễn Khắc Thành và sau này là thầy Tạ Thiện Ngọ, Nguyễn Văn Hướng làm bí thư đoàn trường, luôn được Chi bộ quan tâm chỉ đạo. Đoàn thanh niên đã phát huy vai trò xung kích, sáng tạo của tuổi trẻ, đề ra nhiều biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức, giáo dục tư tưởng chính trị cho Đoàn viên thanh niên; tham gia quản lý có hiệu quả nề nếp  học tập của học sinh và tích cực xây dựng tổ chức đoàn vững mạnh. Trong hoạt động của mình, Đoàn trường đã thường xuyên phối hợp với giáo viên chủ nhiệm  tổ chức cho đoàn viên, thanh niên học sinh các đợt lao động dã ngoại như hái chè, chăm sóc chè tại Nông trường Lương Mỹ, lao động trồng sắn ở trường bắn Quốc gia, cấy lúa ở xã Tuy Lai, đào ao cá Bác Hồ tại cửa đình Cao Lãm ( Xã Cao Thành),… Trong các đợt  lao động dã ngoại, học sinh phải mang theo gạo, đèn, bát đĩa, nồi xong để tự túc nấu ăn. Những hoạt động trên đây đã góp phần  xây dựng mối gắn kết giữa thầy và trò, giữa trò với trò, giữa nhà trường với địa phương,  giúp học sinh không chỉ hiểu biết về tình hình kinh tế - xã hội của các địa phương; hiểu về thực tế cuộc sống lao động , cảm thông chí sẻ khó khăn, vất  của các gia đình  mà  còn góp phần giáo dục học sinh ý thức vươn lên, quyết tâm học tập để trở thành những công dân có ích cho xã hội. Cùng với hoạt động dã ngoại trải nghiệm, Đoàn thanh niên thường xuyên tổ chức tốt lễ kỷ niệm ngày thành lập Đoàn 26/3. Hàng năm, vào dịp 26/3, Đoàn thanh niên đều tổ chức cắm trại tại trường hoặc  đơn vị kết nghĩa như nông trường Lương Mỹ, trường bắn quốc gia với chương trình văn nghệ và đốt lửa trại. Những đêm liên hoan văn nghệ chào mừng ngày thành lập Đoàn trở thành hoạt động văn hóa, văn nghệ có sức thu hút  bà con nhân dân các xã xung quanh đến dự và cổ vũ sôi nổi.  Đoàn thanh niên cũng đã  tổ chức cho đội ngũ cán bộ lớp, cán bộ đoàn đi tham quan học tập.Tổ chức đón đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô đến thăm trường; Khi trường chuyển về Hoa Sơn, Đoàn trường mời dũng sỹ trên mặt trận Biên giới năm 1979, đại úy Nguyễn Hải Đăng ( người xã Trường Thịnh, nay là Bí thư Đảng ủy xã Trường Thịnh), anh hùng LLVT Nguyễn Trường Xuân ( người xã Cao Thành) về nói chuyện và giao lưu với tuổi trẻ nhà trường.

Năm 1979, Chiến tranh biên giới nổ ra, hưởng ứng lệnh tổng động viên, nhiều thầy giáo đã hăng hái lên đường tòng quân như thầy Tào Xuân Trịnh, thầy Nguyễn Hữu Cát…. Học tập các thầy, nhiều học sinh trường cấp 3 Ba Thá đã nô nức đăng ký tòng quân lên biên giới phía Bắc bảo vệ biên cương. Trong số đó có em Nguyễn Thị Chiến ( quê xã Phúc Lâm) đã trốn gia đình tự nguyện nhập ngũ. Sau khi lên chiến trường phía Bắc, chị đã dùng máu của mình viết thư gửi về cho thầy, trò nhà trường. Bức thư được đọc trước toàn trường trong giờ chào cờ đầu tuần, gây sự xúc động lớn và thể hiện sâu sắc việc thấm nhuần lý tưởng cách mạng của lớp lớp thanh niên Việt Nam thời kỳ này.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Chi ủy – Chi bộ - Ban giám hiệu nhà trường, ý chí quyết tâm, sự nỗ lực vượt khó vươn lên của  học sinh; lòng nhiệt tình của các thầy cô giáo trong hội đồng giáo dục nhà trường; bên cạnh đó là  sự quan tâm của các lực lượng xã hội, sự ủng hộ to lớn của các bậc cha mẹ học sinh và nhân dân trên địa bàn, kết quả công tác giáo dục của trường cấp 3 Ba Thá  bước đầu đã gặt hái được những trái chín đầu mùa: Hàng năm đã có học sinh đạt giải cao trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp tỉnh, điển hình là anh Nguyễn Văn Luật năm 1977 (phân hiệu Ba Thá), đạt giải ba  môn Văn; anh Phạm Tuấn Nhượng khóa 1986 -1989 đạt giải nhì môn toán….Nhiều anh chị từ các lớp dành riêng cho con em liệt sỹ, thương bệnh binh đã vươn lên học giỏi và sau này thành đạt như anh Kim Ngọc Đại – Đại tá, tiến sỹ trưởng phòng tổ chức Trường sỹ quan lục quân I; anh Nguyễn Văn Quân tiến sỹ Phó giám đốc Bệnh viện K trung ương – Học sinh khóa 1978-1981.

Trải qua 5 năm xây dựng và phát triển 1977-1982,  số lượng học sinh Trường cấp 3 Ba Thá đã tăng lên nhiều; hệ thống cơ sở vật chất, trường lớp đã trở nên quá tải. Xuất phát từ yêu cầu chung, năm 1982. một bộ phận  thầy cô của trường  Cấp 3 Ba Thá được điều chuyển đi, đến để thành lập Trường cấp 3 Mỹ Đức B (xã An Mỹ, huyện Mỹ Đức); Trường cấp 3 Chương Mỹ B ( xã Đồng Phú, huyện Chương Mỹ).  Việc chia tách trường Cấp 3 Ba Thá  đánh dấu bước phát triển của trường  và cũng là dấu mốc mở đầu một thời kỳ mới đang hiện hình ở phía trước trên con đường đi lên của một ngôi trường. Giờ đây, Trường cấp 3 Ba Thá thực hiện sứ mệnh giáo dục và đào tạo con em nhân dân của các xã miền bắc Ứng Hòa. Bối cảnh lịch sử mới, việc nhà trường đặt địa điểm tại Ba Thá Viên An, điểm cực bắc của huyện Ứng Hòa  trở nên khó khăn trong việc đi lại, học tập của  con em và nhân dân của 9 xã bắc Ứng Hòa. Để góp phần tháo gỡ khó khăn trên, được sự  đồng ý của huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa, từ năm học 1983 – 1984, trường cấp 3 Ba Thá bắt đầu thực hiện cuộc di dời lịch sử - chuyển trường từ Ba Thá (Viên An) về cơ sở mới: thôn Miêng Hạ, xã Hoa Sơn, huyện Ứng Hòa – địa điểm tương đối trung tâm của các xã phía bắc huyện Ứng Hòa.

Hoa Sơn là vùng đất có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, phía Bắc giáp xã Viên Nội và Viên An, phía Nam giáp xã Trường Thịnh và Đồng Tiến, phía tây giáp xã Cao Thành và Sơn Công, phía đông giáp xã Cao Dương và Hồng Dương ( Thanh Oai).

Xã có 3 thôn là Trần Đăng, Miêng Thượng và Miêng Hạ. Là vùng thuần nông, người dân nơi đây chủ yếu là làm nông nghiệp, không có nghề phụ; thôn Miêng Thượng theo đạo thiên chúa, nhiều dân trong thôn thường xuyên đi làm ăn xa.

Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban nhân dân huyện Ứng Hòa,  thầy và trò trường cấp 3 Ba Thá lại gồng gánh dắt nhau về quê mới. Trong những năm học từ 1983 -1984 đến năm học 1986 – 1987, thầy và trò nhà trường phải công tác, học tập trong điều kiện “một chốn ba nơi”. Một mặt, nhà trường vẫn duy trì các lớp cuối cấp tại Ba Thá do thầy hiệu phó Nguyễn Đức Vĩnh phụ trách, mặt khác, các lớp đầu cấp sau khi tuyển sinh tại cấp 3 Ba Thá, được chuyển về học tại xã Hoa Sơn do thầy Hiệu trưởng Nguyễn Văn Khuyến phụ trách. Những năm này trường phải mượn địa điểm học tại trường cấp 1, cấp 2 và trạm y tế xã Hoa Sơn. Một mặt , trường phải tiếp tục duy trì nề nếp dạy học ở các lớp tại Ba Thá; sớm ổn định việc dạy và học tại Hoa Sơn, vừa phải đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường học  mới trên nền  đất ruộng được san lấp rộng 12000m2  của Làng Miêng Hạ. Cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh vừa dạy, vừa học, vừa tổ chức vận chuyển bàn, ghế, cơ sở vật chất về địa điểm mới. Ngoài khu phòng học 3 tầng được nhà nước đầu tư xây dựng , để có khu làm việc, hệ thống tường rào, hệ thống cảnh quan, bên cạnh sự ủng hộ về vật chất của Quân chủng phòng không không quân, các em học sinh phải một buổi học, một buổi lao động. Nào vận chuyển bàn ghế, đồ dùng, dụng cụ học tập, nào đào ao, đóng gạch, trồng cây, đắp đường... Khối lượng công việc và sức người thật không kể xiết.

Bằng công sức lao động của thầy và trò, công tác xây dựng cơ bản hoàn thành,  ngày 5 tháng 9 năm 1988, Nhà trường vinh dự được đón Giám đốc sở tiến sỹ Nguyễn Quang La về cắt băng khánh thành ngôi trường mới và dự  khai giảng năm học 1988-1989. Cảnh “một chốn ba nơi” không còn nữa. Từ đây, thầy và trò được giảng dạy, học tập, công tác tại ngôi trường mới – Trường THPT Trần Đăng Ninh..

Sự ra đời của ngôi trường THPT Trần Đăng Ninh tại xã Hoa Sơn Huyện Ứng Hòa, đánh dấu “Bước khởi đầu đi lên đầy khó khăn thử thách 1977 – 1987”,  được các thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh  nhà trường hoàn thành một cách xuất sắc.  Trường THPT Trần Đăng Ninh chính thức bước vào một thời kỳ mới – thời kỳ  được đánh dấu bằng  giai đoạn 20 năm  “chuyển mình mạnh mẽ” 1988 – 2018.

Trong thập niên từ 1977 đến 1987, kể từ khi trường cấp 3 Ba Thá chính thức được thành lập  đến lúc  đổi tên là trường THPT Trần Đăng Ninh. Nhà trường đã không ngừng vươn lên đạt được những thành tích toàn diện trong tất cả các lĩnh vực giáo dục và đào tạo. Những thành công ấy của trường đã để lại nhiều bài học kinh nghiệm quý giá mà tiêu biểu nhất đó là bài học về  tinh thần đoàn kết, sự nỗ lực vượt khó vươn lên của  thầy và trò nhà trường. Bài học sâu sắc đó  được các thế hệ sau này  tiếp nối và phát huy trong quá trình xây dựng nhà trường ngày càng phát triển.

CHƯƠNG II.

NHỮNG CHUYỂN BIẾN MẠNH MẼ TRÊN CHẶNG ĐƯỜNG

20 NĂM ĐỔI MỚI 1988 – 2008.

Cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước kết thúc với chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất Tổ quốc. Đất nước ta bước sang một kỉ nguyên mới – kỉ nguyên độc lập, thống nhất cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội. Trong 10 năm đầu cách mạng xã hội chủ nghĩa  đã đạt được những thành tựu đáng kể trên các lĩnh vực của đời sống xã hội song cũng gặp không ít những khó khăn, hạn chế và cả những sai lầm, khuyết điểm. Hậu quả nghiêm trọng nhất là đất nước lâm vào khủng hoảng về kinh tế, xã hội.

Để khắc phục những sai lầm khuyết điểm đưa đất nước vượt qua khủng hoảng, đổi mới đất nước trở thành yêu cầu cấp thiết. Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 12/1986 đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng lần thứ VI  họp tại Hà Nội đã quyết định đổi mới đất nước. Đại hội thông qua nhiều nghị quyết quan trọng, trong đó  đặc biệt chú trọng đến vấn đề đổi mới giáo dục đào tạo và coi giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nhân tố quan trọng quyết định sự phát triển của đất nước. Nghị quyết đại hội đã thổi một luồng gió mới tạo cơ sở cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục đào tạo nước nhà.

Dưới sự lãnh đạo của tỉnh Đảng bộ Hà Tây  sự nghiệp giáo dục và đào tạo có nhiều chuyển biến tích cực. Ở khu vực bắc Ứng Hòa, sau 3 năm xây dựng ngôi trường mới, thể theo nguyện vọng của thầy và trò nhà trường; sự đồng thuận của đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Ứng Hòa, để góp phần giáo dục truyền thống, lý tưởng cách mạng cho lớp lớp học sinh nhà trường, đảng và nhà nước đã cho phép trường được đổi tên Trường cấp 3 Ba thá thành trường THPT Trần Đăng Ninh. Khai giảng năm học 1988 - 1989, trường chính thức được mang tên: Trường THPT Trần Đăng Ninh mang tên Người chiến sỹ cộng sản kiên cường, nhà lãnh đạo tài ba của Đảng, Nhà nước và quân đội, học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người con ưu tú của quê hương Quảng Phú Cầu. Mở ra giai đoạn 20 năm,  từ 1988 đến 2008 - giai đoạn chuyển mình vươn lên mạnh mẽ  của Trường THPT Trần Đăng Ninh.

Ban giám hiệu gồm thầy  Nguyễn Văn Khuyến Hiệu trưởng. Thầy Nguyễn Đức Vĩnh;  thầy Nguyễn Kim Bôi;  thầy Tạ Thiện Ngọ Phó Hiệu trưởng. Năm học 1990 – 1991 thầy Nguyễn Văn Khuyến nghỉ hưu, thầy  Nguyễn Kim Bôi được bổ nhiệm Hiệu trưởng;  năm 1995 thầy Đỗ Ngọc Anh; Năm 2000 thầy Vũ Trí Thức và Mai Khắc Định phó Hiệu trưởng, đến năm 2005 bổ sung Cô Ngô Thị Bích Ngân; năm 2008 bổ sung thầy Nguyễn Văn Quảng. Chi bộ Đảng Nhà trường  năm 1990 có 19 đảng viên, sinh hoạt ở 3 tổ đảng. Giai đoạn từ 1988 đến 2007, chi bộ đã tiến hành 4 kỳ Đại hội và 8 Hội nghị Chi bộ giữa nhiệm kỳ. Trong đó có hai Đại hội với những quyết sách đột phá mang lại những thành công cho nhà trường.

Đại hội Chi bộ lần thứ IX nhiệm kỳ 1990 -1995,  bầu Cấp ủy gồm Thầy Nguyễn Kim Bôi Bí thư chi bộ; Thầy Tạ Thiện Ngọ  phó Bí thư chi bộ; thầy Phạm Xuân Hoa chi ủy viên.  Năm 1995 bổ sung Thầy Đỗ Ngọc Anh chi ủy viên. Đại hội đã đề ra chủ trương quan trọng mang tính đột phá để nâng cao chất lượng giáo dục nhà trường:

1.Mở rộng mô hình lớp chọn( bên cạnh lớp chọn khối A mở thêm khối C).

2.Đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục huy động mọi nguồn lực để xây dựng, cải tạo nhà trường và tăng cường cơ sở vật chất phục vụ dạy và học.

Đại hội Chi bộ lần thứ XI nhiệm kỳ 2000 - 2005,  bầu Cấp ủy gồm Thầy Nguyễn Kim Bôi Bí thư chi bộ; Thầy Nguyễn Văn Nghi  Phó Bí thư chi bộ;Thầy  Vũ Trí Thức chi ủy viên. Đại hội đã đề ra chủ trương: Thành lập các lớp nâng cao ở tất cả các khối lớp, các khối thi đại học A,B,C,D; Mở rộng diện tích trường; đa dạng hóa các loại hình đào tạo trong trường công lập có các lớp bán công và giáo dục thường xuyên.

Từ thực tiễn hoạt động dạy và học của Trường THPT Trần Đăng Ninh, trong giai đoạn 1988 -2008, trong hoạt động lãnh đạo và chỉ đạo, Chi bộ luôn phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo mọi hoạt động của nhà trường, xây dựng được quy chế làm việc khoa học, chương trình kế hoạch hàng tháng, mọi hoạt động của nhà trường đi vào kỉ cương, nề nếp giúp mọi thành viên có ý thức tự giác hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Chi bộ luôn làm tốt công tác quản lý cán bộ, đảng viên, có mối quan hệ thường xuyên với địa phương với các cấp ủy Đảng cơ sở và gương mẫu thực hiện mọi nghĩa vụ công dân nơi cư trú. Chi bộ còn chú trọng làm tốt công tác xây dựng đảng, qua đó nâng cao chất lượng dạy và học: duy trì lớp học nâng cao, đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục; nghiêm túc thực hiện cuộc vận động “ Hai không”. Đến năm 2007, chi bộ đã kết nạp nhiều đảng viên mới, đưa tổng số đảng viên lên 25 đồng chí chiếm 1/3 cán bộ giáo viên trong trường.

Bước vào giai đoạn 1988 – 2007, bên cạnh những thuận lợi là được sự quan tâm của chính quyền các cấp đối với sự nghiệp giáo dục của nhà trường, nhưng thực tế trường  còn gặp  nhiếu khó khăn. Cơ sở vật chất, ban đầu trường chỉ có một khu nhà ba tầng với 18 phòng học. Khu làm việc của thầy cô giáo, khu nhà tập thể của giáo viên vẫn là những căn nhà cấp 4 lợp ngói sông Cầu. Toàn bộ sân trường vẫn là nền đất, trời nắng thì bụi trời  mưa thì ngập nước, lầy lội. Khu  trước sân trường và  sau dãy nhà tập thể của giáo viên vẫn là ruộng lúa, có một cái ao trước cổng đi vào sân trường. Thời đó, quang cảnh trường lớp như vậy khiến hoạt động dạy và học gặp rất nhiều khó khăn. Ban giám hiệu nhà trường đã huy động cả giáo viên và học sinh tham gia cải tạo trường, lớp, sáng học, chiều lao động đào ao san lấp nền sân trường. Các năm đầu thời kỳ này học sinh còn phải góp gạch mộc để nung đốt tại trường lấy gạch xây trường. Sau này Nhà trường còn thu sản phẩm lao động tại nhà để có kinh phí tu sửa và cải tạo cảnh quan nhà trường.Các buổi “lao động cộng sản chủ nghĩa” do đoàn  thanh niên phát động, lớp nào cũng cắm cờ đỏ sao vàng, loa truyền thanh phát đi những bài hát về đảng về đoàn không khí thật hồ hởi phấn khởi và náo nhiệt.

Trên cơ sở sự quan tâm của Đảng,nhà nước, sở giáo dục đào tạo Hà Tây; chính quyền và nhân dân các xã Bắc Ứng Hòa; sự nỗ lực không biết mệt mỏi của thầy và trò nhà trường cơ sở vật chất của trường dần dần được bổ sung. Các năm từ 1993 đến 1996, nhà trường đã vận động UBND các xã ủng hộ kinh phí lát gạch hoa được toàn bộ 18 phòng học ; khuôn viên của nhà trường cũng có nhiều thay đổi.  Bên cạnh  khu phòng học 3 tầng, 18 phòng học khánh thành năm 1988, nhà trường đã có thêm  khu phòng học  2 tầng với 11 phòng học hoàn thành năm 1997. Tiếp đến là khu hiệu bộ hiện nay với một Hội trường lớn và đầy đủ các phòng làm việc của Ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và tổ hành chính bằng nguồn xã hội hóa. Khu  nhà chờ của giáo viên; phòng lab,phòng vi tính, thư viện; Ao trường đã được kè đá; sân trường được bê tông hóa và  cổng trường cũng đã được xây mới. Cảnh quan nhà trường dần được khang trang đáp ứng nhu cầu dạy và học của thầy và trò. Đặc biệt, năm 2005 nhà trường được UBND xã Hoa Sơn tạo điều kiện có thêm 10.000m2 đất ruộng liền kề để làm sân vận động, mở rộng diện tích trường lên 22000m2, với 2 khu: khu học tập  29 phòng học và các phòng chức năng;  khu thể thao  với sân vận động và nhà đa năng 320m2..

Trong công tác chuyên môn: Bước vào giai đoạn mới 1988-2008, ngay  từ năm học 1986-1989 Nhà trường đã tổ chức  thí điểm lớp chọn khối A do thầy Đỗ Ngọc Anh chủ nhiệm và thành quả đầu tiên  có học sinh đạt giải HS giỏi tỉnh: Tiêu biểu là em Phạm Tuấn Nhượng đạt giải nhì toán cấp tỉnh, được vào đội tuyển HS giỏi toàn quốc. Đội tuyển toán nhà trường xếp thứ ba toàn đoàn sau Trường chuyên Nguyễn Huệ và Lê Quý Đôn. Năm học 1993- 1994 Trường thành lập thêm lớp chọn khối C – Lớp A2 do Thầy Vũ Trí Thức làm chủ nhiệm. Thi học sinh giỏi cấp tỉnh năm 1996  đã có em Nguyễn Thị Huyền đạt giải nhì văn; em Dương Thị Huyền giải Ba, em Nguyễn Thị Tâm giải khuyến khích môn Lịch sử. Đặc biệt, từ giai đoạn 2000-2008 các lớp chọn được gọi là các lớp nâng cao và mở rộng quy mô,  khối lớp nào cũng có đủ  khối A, khối B, khối C, khối D. Nhiều  năm học  đã có tới 16 lớp nâng cao. Mô hình các lớp chọn, các lớp nâng cao là nơi nuôi dưỡng những tài năng của trường  và  đã có rất nhiếu học sinh đạt giải qua các kỳ thi chọn học sinh giỏi tỉnh Hà Tây. Tiêu biểu năm học 1987-1988 Nhà trường được khen về thành tích bồi dưỡng học sinh giỏi và lần đầu tiên được Công nhận là Trường tiên tiến. Từ  2000 đến 2008, hàng năm có nhiều học sinh đạt giải qua các kỳ thi chọn học sinh giỏi cấp tỉnh trong đó phải kể đến các đội tuyển học sinh giỏi  môn hóa, sử, toán,  đều xếp thứ nhất, nhì cấp tỉnh. Các thầy  Đỗ Ngọc Anh, Nguyễn Xuân Bình,Tạ Thiện Ngọ, Nguyễn Khắc Thành, Vũ Thị Hậu, Phạm Xuân Hoa, Nguyễn văn Nghi, Đoàn Hồng Phục; cô giáo Phạm Thị Tuyết Mai, Bùi Thị Dương Chung, Ngô thị Bích Ngân..đã có nhiều cố gắng và đạt nhiều thành tích cao trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi.

Trong công tác chỉ  đạo chuyên môn, nhà trường thường xuyên tăng cường chỉ đạo đổi mới sinh hoạt của  các tổ chuyên môn: dự giờ thăm lớp đổi mới phương pháp dạy học theo hướng  lấy học sinh làm trung tâm, thảo luận xây dựng những bài khó, giáo án dạy nâng cao, thống nhất ra đề kiểm tra, đánh giá… Phong trào viết sáng kiến kinh nghiệm thường xuyên được triển khai có hiệu quả. Tổ toán, tổ lý – kỹ thuật với các thầy cô nhiệt tình và tâm huyết như thầy Nguyễn Tiến Doanh, cô Vũ Thị Hậu, Nguyễn Khắc Thành, Nguyễn Xuân Bình, Đoàn Hồng Phục …. đã liên tục đạt danh hiệu tổ Lao động tiên tiến và có nhiều học sinh đạt nhất, nhì, ba qua các kỳ thi chọn HSG tỉnh tiêu biểu em Lê Xuân long, Nghiêm Trung Dũng (toán), Nguyễn Minh Thông, Nguyễn Bá Thiên, Nguyễn Văn Tú (lý). Tổ hóa- thể dục- giáo dục công dân luôn đi đầu trong phong trào thi đua dạy tốt. Hàng năm tổ đều chú trọng công tác bồi dưỡng học sinh giỏi, tổ chức giảng dạy có sự thống nhất trong từng chuyên đề, từng bài dạy cụ thể. Các thầy Phạm Xuân Hoa, Nguyễn văn Quảng, cô Bùi dương Chung, cô Nguyễn Thị Thúy Hà  là những giáo viên tiêu biểu của tổ. Trong bước đi lên của trường THPT Trần Đăng Ninh, tổ Văn - Sử  cũng luôn là niềm tự hào của nhà trường. Nhiều thầy cô giáo trong tổ văn - sử  hàng năm có sáng kiến kinh nghiệm xếp loại B cấp nghành, là chiến sỹ thi đua cấp cơ sở và được công nhận là giáo viên giỏi.Tiêu biểu cô Phạm thị Tuyết Mai, thầy Phạm Văn Hanh, cô Vũ Thị Thủy. Các  tổ chuyên môn nhà trường  thực sự là cái nôi trưởng thành của nhiều thầy cô giáo giỏi, nhiều nhà giáo dục tâm huyết được học sinh và nhân dân kính trọng, tin yêu. Cũng từ đây có nhiều thầy cô đã trở thành cán bộ lãnh, quản lý các cấp như thầy Bùi Tuấn Quang chánh văn phòng Ban dân vận trung ương; Đỗ Ngọc Anh trưởng phòng giáo dục huyện Ứng Hòa; thầy Đỗ Năng Bình trưởng Ban tuyên giáo huyện ủy Ứng Hòa

Thực hiện chủ trương phát triển mạnh mẽ về quy mô trường lớp và đa dạng hóa các loại hình đào tạo của đảng và nhà nước và của ngành.Để góp phần đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập của con em nhân dân các xã Bắc Ứng Hòa cũng như các xã lân cận , đồng thời góp phần thúc đẩy, phát triển giáo dục đào tạo góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho quê hương đất nước.Trong giai đoạn từ Năm học 2000 – 2001 đến năm học 2007-2008, thực hiện Nghị quyết của Đại hội chi bộ khóa XI nhiệm kỳ 2000 – 2005, Nhà trường chủ trương  đa dạng hóa các loại hình đào tạo. Bên cạnh các lớp công lập còn có cả hệ bán công và giáo dục thường xuyên nên số lớp học tăng lên, năm học 1988-1989 có 12 lớp với  gần 500 học sinh. Năm học 1991-1992 chuyển đổi từ hệ 10 năm sang hệ 12 năm tuyển sinh vào lớp 10 nhà trường chỉ có 2 lớp với 48 học sinh, đến 2007 trường đã có quy mô và số lượng học sinh tăng lên và đạt kỷ lục: 52 lớp với 2450 học sinh  công lập; 120 học sinh GDTX; 132 học sinh dân lập Nguyễn Thường Hiền. Kết quả  2 mặt giáo dục của nhà trường không ngừng tăng lên.Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp nhiều năm đạt  95%, nhiều học sinh đạt điểm 10 trong kì thi tuyển sinh vào đại học. Năm học 2004-2005 có 34% học sinh đạt điểm sàn vào đại học. Năm học 2005-2006 số học sinh vào đại học xếp thứ 6 toàn tỉnh.

Đội ngũ giáo viên, nhân viên Nhà trường  năm học 1988 -1989 có 45 người đến năm học 2000-2001 đã lên đến 78 người và đến năm 2007-2008 là 104 người, 100% đạt trình độ chuẩn trong đó có 3 thạc sỹ. Trong những năm đầu sau đổi mới, đời sống của các thầy cô giáo cũng gặp vô vàn khó khăn. Với đồng lương giáo viên rất thấp không đủ trang trải cuộc sống gia đình,  nhiều thầy cô đã phải làm thêm nghề phụ như làm ruộng, khâu nón, làm đậu…  Vượt lên trên những khó khăn,  thiếu thốn về vật chất, các thầy cô vẫn sát cánh bên nhau, vượt qua mọi gian khổ, kiên trì bám trường, bám lớp mang đến cho lớp lớp học sinh những tri thức, chắp cánh cho những ước mơ. Bằng tình thương và tinh thần trách nhiệm của người thầy, nhiều thầy cô giáo đã không quản ngại khó khăn để đến tận nhà học sinh vận động, thuyết phục phụ huynh để các em được tiếp tục đến trường. Sau này, nhiều  thầy cô đã chuyển công tác sang lĩnh vực khác, hoặc chuyển trường, thầy cô về hưu nhưng trong tâm trí của thế hệ học sinh vẫn mãi khắc ghi hình bóng của cô thầy. Đó là những tấm gương nhà giáo tiêu biểu – những người đã gánh vác trọng trách "Trồng Người" cùng với nhiều thế hệ thầy và trò nhà trường viết nên thành tích rất đáng tự hào của ngôi trường Trần Đăng Ninh thân yêu.

Tổ chức công đoàn nhà trường trong giai đoạn 1988-2007, các thầy Đặng Văn Tích, Phạm Xuân Hoa, Nguyễn Văn Nghi, Phạm Văn Hanh lần lượt được Đại hội công đoàn Nhà trường bầu làm chủ tịch. Cùng với sự trưởng thành của nhà trường, công đoàn nhà trường từ một  tổ chức với 45 công đoàn viên (năm 1990), đã phát triển với  102 công đoàn viên (năm 2007). Sinh hoạt ở 5 tổ công đoàn văn - sử, vật lí - công nghệ - sinh vật, toán - tin, địa - ngoại ngữ, hóa - thể dục - giáo dục công dân và tổ hành chính. Bên cạnh chức năng nhiệm vụ của tổ chức công đoàn cơ sở, công đoàn nhà trường đã làm tốt nhiệm vụ bảo vệ lợi ích chính đáng của công đoàn viên, chăm lo đến đời sống của cán bộ giáo viên; xây dựng khối đoàn kết nội bộ; thực hiện có hiệu quả phương châm của nhà trường là “Xây dựng tập thể đoàn kết giúp nhau cùng tiến bộ”. Hàng năm công đoàn nhà trường còn tích cực cùng Ban chuyên môn nhà trường tổ chức có hiệu quả các đợt thi đua, các cuộc vận động lớn của ngành. Qua các đợt thi đua đặc biệt, đợt thi đua chào mừng ngày Nhà giáo Việt Nam hàng năm đã có nhiều giờ dạy giỏi được khen thưởng.Các ngày kỷ niệm: 20 tháng 10; 8 tháng 3 háng năm công đoàn đã làm tốt việc bình xét các danh hiệu “Giỏi việc trường đảm việc nhà” trong đội ngũ nữ cơ quan. Để góp phần tăng thu nhập, nâng cao đời sống cho cán bộ giáo viên của trường vào những năm từ 2000 đến 2007, công đoàn nhà trường đã đứng ra đảm nhiệm tổ chức và quản lý  hoạt động  dạy thêm, học thêm trong trường. Đáng chú ý  là các đợt ôn thi vào 10, ôn thi vào các lớp nâng cao. Bên cạnh đó là việc  tổ chức các dịch vụ căng tin, mở cửa hàng bán tạp hóa, sách vở, đồ dùng học sinh lúc đầu cử nhân viên hành chính hoặc giáo viên dôi dư đảm nhiệm, sau này áp dụng hình thức khoán cho cá nhân theo năm học. Đồng thời cho cá nhân có hộ khẩu xã Hoa Sơn thuê đất để mở dịch vụ.

Hàng năm, phối hợp cùng nhà trường, công đoàn đã tổ chức nhiều đợt thăm quan, học tập cho công đoàn viên, có năm tổ chức các chuyến đi tham quan nghỉ hè xa tận thành phố Hồ Chí Minh; tích cực tham gia có hiệu quả các hoạt động văn hóa, văn nghệ TDTT do công đoàn ngành tổ chức. Bên cạnh đó, thường xuyên làm tốt công tác từ thiện, nhân đạo. Quyên  góp ủng hộ đồng bào bị bão lụt thiên tai, đồng bào vùng sâu vùng xa, quĩ trẻ em bị nhiễm chất độc da cam…. Đặc biệt, là ủng hộ phong trào  xây nhà tình nghĩa, “Mái ấm công đoàn” do công đoàn nghành phát động. Có được những kết quả phát triển và những việc làm thiết thực trên đây, công đoàn nhà trường luôn ghi nhận sự đóng góp của các thế hệ lãnh đạo nhà trường, lãnh đạo công đoàn và các thế hệ  cán bộ giáo viên đầy tâm huyết - những người đã đặt nền móng cho sự phát triển của nhà trường cũng như của tổ chức công đoàn.

Về tổ chức Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh trường THPT Trần Đăng Ninh giai đoạn 1988 – 2008. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện đoàn Ứng Hòa, đoàn trường THPT Trần Đăng Ninh ngày càng lớn mạnh;  công tác đoàn và phong trào thanh niên nhà trường không ngừng phát triển mạnh mẽ. Đại hội Đoàn thanh niên CS Hồ Chí Minh của trường năm học 1988-1989 đã bầu thầy Đỗ Ngọc Anh làm bí thư đoàn trường; Năm học 1989-1990 bầu thầy  Bùi Tuấn Quang làm bí thư;  từ năm 1995 đến 2000 thầy Vũ Trí Thức; từ 2001 đến 2006 thầy Đỗ Năng Bình; từ 2006 đến 2008 thầy Nguyễn Văn Quảng; từ 2008 đến 2012 thầy Vũ Ngô Viết Đồng và từ 2013 đến 2017 thầy Nguyễn Đăng Quang.

Được sự quan tâm đặc biệt của chi ủy, chi bộ nhà trường, đoàn trường hàng năm đã tích cực tham mưu với cấp ủy - chi bộ, ban lãnh đạo trường  về việc ban hành những  chủ trương, nghị quyết  liên quan đến công tác đoàn và phong trào thanh niên, đặc biệt là phong trào xây dựng “Tập thể học sinh xã hội chủ nghĩa” 1988-2000 và phong trào “Học tập tốt – rèn luyện tốt vì ngày mai lập nghiệp” 2000 – 2007. Trên cơ sở nhiệm vụ được chi bộ giao cho là đảm nhiệm công tác giáo dục đạo đức học sinh, quản lý nề nếp học tập và tổ chức các phong trào thi đua dạy tốt - học tốt trong học sinh.Hàng năm đoàn trường đã chủ động xây dựng kế hoạch triển khai rộng tới các đoàn viên thanh niên học sinh các lớp, các giáo viên chủ nhiệm. Đối với công tác quản lý nề nếp học sinh: Đoàn trường đã chú trọng kiện toàn đội ngũ thanh niên cờ đỏ làm nòng cốt thường xuyên trực theo dõi nề nếp chuyên cần của học sinh. Những học sinh thường xuyên đi muộn hoặc vi phạm nội quy được ghi lại thông báo cho giáo viên chủ nhiệm lớp và nêu tên trên bảng tin. Các đợt thi đua cao điểm, đoàn trường phân công theo dõi thi đua chéo giữa các lớp cuối tuần và cuối tháng phân loại chi đoàn, lớp và xếp thứ tự thi đua trong toàn trường. Vào đầu năm học, Đoàn trường đã tổ chức kiểm tra đồ dùng học tập của các lớp, kịp thời nhắc nhở những học sinh thiếu sách vở, đồ dùng học tập.Hàng tháng đều kiểm tra nội vụ nhằm ngăn ngừa phát hiện học sinh mang pháo, vũ khí, chất cháy nổ đến trường. Điểm nổi bật công tác đoàn giai đoạn này là phong trào lao động ‘Cộng sản chủ nghĩa”. Vào dịp tháng 3 hàng năm, đoàn trường phát động các đợt lao động cộng sản chủ nghĩa huy động 100% đoàn viên thanh niên học sinh các lớp lao động đào ao san lấp sân trường. Các buổi “lao động cộng sản chủ nghĩa” do đoàn  thanh niên phát động, lớp nào cũng cắm cờ đỏ sao vàng, loa truyền thanh phát đi những bài hát về đảng về đoàn không khí thật hồ hởi phấn khởi và náo nhiệt. Quần áo lấm bùn, mồ hôi nhễ nhại,thầy trò ai ai cũng thấm mệt nhưng cũng thật vui.

Để góp phần tăng thu  cho quỹ hoạt động của đoàn trường, hàng năm đoàn trường đều phát động quyên góp giấy vụn, giẻ rách với chỉ tiêu giao cụ thể mỗi đoàn viên thanh niên  1kg. Hoặc đoàn trường  liên hệ tìm công việc như đảm nhận dỡ gạch ra lò cho chủ lò gạch, sau đó tổ chức cho đoàn viên thanh niên lao động vào các buổi chiều. Các hoạt động văn nghệ, thể dục thể thao giai đoạn 1988-2007 được đoàn trường tổ chức có hiệu quả. Qua các kỳ tham gia hội diễn văn nghệ cấp tỉnh, cấp huyện đội văn nghệ nhà trường đều đạt thành tích cao. Các cuộc thi  “Tiếng hát thầy trò” do Sở giáo dục Hà Tây tổ chức đoàn trường tham gia tích cực với những gương mặt tiêu biểu như thầy Đoàn Giỏi, thầy Bùi Tuấn Quang, thầy Lê anh Tuấn; học sinh Đặng Thị Mây, Nguyễn Văn Hệ, Nguyễn Thị Thu Phương…Phong trào thể dục thể thao được chú trọng phát triển cả về thể thao phong trào và thế mạnh. Nhiều năm đoàn trường kết hợp với tổ thể dục tổ chức giải bóng đá nam học sinh  trong toàn trường, đặc biệt vào dịp 26/3 phải mượn sân bóng đá của các xã Viên Nội, Cao Thành và Sơn Công.

Hoạt động giao lưu thể thao, bóng đá cũng được tổ chức hàng năm với trường Mỹ Đức B, Nguyễn Du, công an huyện, các xã Sơn Công, Hoa Sơn… Nhà trường nhiều năm được công nhận là Đơn vị xuất sắc về phong trào thể dục thể thao với nhiều học sinh tiêu biểu.

Trong giai đoạn 1988-2007, giai đoạn đất nước tiến hành công cuộc đổi mới, những mặt trái của cơ chế thị trường, những tiêu cực xã hội nảy sinh đã tác động và thâm nhập mạnh vào môi trường giáo dục trong đó có môi trường giáo dục của nhà trường. Hiện tượng  bỏ học, trốn học;  bạo lực học đường là vấn đề hết sức nhức nhối;  tình hình mất an ninh ninh trật tự dẫn đến các vụ việc đánh nhau trong và ngoài trường, giữa học sinh các xã, kéo theo thanh niên địa phương xảy ra. Nhiều năm nhà trường đã phải đình chỉ không cho dự thi tốt nghiệp không ít học sinh do nghỉ học quá buổi quy định; đánh nhau; đùa nghịch đẩy nhau xuống ao trường ….

Trong bối cảnh ấy, những nỗ lực cố gắng của ban lãnh đạo trường THPT Trần Đăng Ninh, sự quyết tâm vượt khó vươn lên của đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh nhà trường được ghi nhận và xứng đáng được biểu dương. Nhân tố chủ quan có vai trò quyết định đó, lại được sự giúp đỡ có hiệu quả của các cấp các ngành, mà đặc biệt là đảng ủy, ủy ban nhân dân các xã phía bắc Huyện Ứng Hòa; sự phối  hợp đồng bộ của hội phụ huynh học sinh và nhân dân trong vùng, qua 20 năm vươn lên cùng công cuộc đổi mới đất nước 1988-2008, trường THPT Trần Đăng Ninh đã đạt được những thành tích. Chi bộ đảng Nhà trường được công nhận là “Tổ chức Đảng trong sạch vững mạnh”. Năm 2006 được Huyện ủy tặng Giấy khen về thành tích kết nạp đảng lớp Đảng viên Hồ Chí Minh. Trường THPT Trần Đăng Ninh nhiều năm được công nhận là Trường tiên tiến; năm 1998 được Bộ trưởng Bộ giáo dục tặng Bằng khen về Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Công đoàn nhà trường đã vươn lên trở thành Tổ chức công đoàn vững mạnh.Đoàn trường đạt danh hiệu tổ chức cơ sở đoàn vững mạnh. Hàng năm có 1/3 tập thể học sinh XHCN, tập thể học tập tốt, rèn luyện tốt vì ngày mai lập nghiệp; được tặng bằng khen của Trung ương Đoàn; được công nhận là đơn vị tiên tiến xuất sắc về văn nghệ - thể dục thể thao..

Trong thời kỳ 1988 - 2008, Nhà trường luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo đảng, nhà nước, quân đội và gia đình nhà cách mạng tiền bối Trần Đăng Ninh. Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều lần gửi thư chúc tết nhà trường; Đồng chí Vũ Oanh ủy viên Bộ chính trị trưởng Ban tổ chức TW; đồng chí Hoàng Tùng ủy viên Bộ chính trị tổng biên tập báo Nhân dân; Đại tướng Nguyễn Quyết; Giáo sư, thượng tướng Trịnh Đình Thảo; Giáo sư Đặng Thị Bích Hà phu nhân Đại tướng Võ Nguyên Giáp; Đại tá Nguyễn Bội Giong; Họa sỹ Phan Kế An; Đại tá Trần Tuấn Quảng - con trai; Đại tá Trần Châu Nguyên, Trần Thị Thử - con gái  đồng chí Trần Đăng Ninh. Các đồng chí Chu Văn Thưởng bí thư huyện ủy Ứng Hòa, Nguyễn Đức Bật chủ tịch UBND huyện Ứng Hòa đã về thăm và trao những phần quà cho học sinh nhà trường dịp Khai giảng, kỷ niệm 20/11 và 50 năm ngày mất của đồng chí Trần Đăng Ninh.

Khép lại một giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ 1988-2007, thầy và trò nhà trường đã đón nhận nhiều  niềm vui, phấn khởi và tự hào. Đi lên từ khó khăn, thiếu thốn sau 20 năm xây dựng và phát triển, Trường THPT Trần Đăng Ninh đã xác lập được vị thế một ngôi trường với nhiều tiềm năng đang vươn lên mạnh mẽ trên quê hương anh hùng. Điều đó một lần nữa khẳng định rằng chỉ có đoàn kết, nỗ lực vượt khó vươn lên mới đem lại những thành công như mong muốn; chỉ có tận tụy với với công việc, tận tâm với nghề và hết lòng vì học sinh thân yêu mới giúp đội ngũ giáo viên nhà trường có được những thành công trong sự nghiệp trồng người.

CHƯƠNG III.

HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 2008 – 2018.

Bước vào thế kỷ 21, xu hướng toàn cầu hóa và cách mạng công nghệ phát triển mạnh mẽ,  một trong những chìa khóa để vượt qua những thách thức của thế kỷ mới là giáo dục. Năm 1997 khi nói về “Giáo dục thế kỷ XXI” Hội đồng giáo dục thuộc UNESCO đã đưa ra một thông điệp rất có ý nghĩa: “Học tập - một kho báu tiềm ẩn”. Báo cáo này đã khẳng định vai trò cơ bản của giáo dục trong sự phát triển của xã hội và của mỗi cá nhân. Nhấn mạnh học tập suốt đời như là một chìa khóa để mỗi cá nhân thích ứng với những thách thức của thế kỷ mới. Đồng thời, báo cáo cũng đề xuất bốn trụ cột được các quốc gia trong đó có Việt Nam tiếp nhận cho triết lý phát triển giáo dục đất nước mình một cách rộng rãi khi bước vào thế kỷ XXI: “ Học để biết, học để làm, học để khảng định mình và học để chung sống”

Từ thực tiễn phát triển của đất nước trên 20 năm đổi mới và hội nhập quốc tế. Đặc  biệt, việc nâng cao vị thế  của thành phố Hà Nội, để Hà Nội  ngày càng xứng đáng với vai trò thủ đô của cả nước và xứng tầm với thủ đô của các nước trên thế giới. Nghị quyết 15 của Bộ Chính trị và Pháp lệnh thủ đô năm 2000, Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành cùng UBND Hà Nội nghiên cứu điều chỉnh và bổ sung quy hoạch chung của thủ đô Hà Nội, nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng Hà Nội là trái tim của cả nước, đầu não chính trị - hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế. Thực hiện nghị quyết của kì họp thứ ba, quốc hội khóa XII ( tháng 5 năm 2008) về việc mở rộng địa giới hành chính Hà Nội, từ ngày 01 tháng 8 năm 2008, tỉnh Hà Tây sáp nhập vào thành phố Hà Nội. Giáo dục Hà Tây trở thành một bộ phận của giáo dục  thủ đô Hà Nội – đơn vị luôn dẫn đầu cả nước về chất lượng giáo dục. Trong bối cảnh ấy,  thầy và trò trường THPT Trần Đăng Ninh lại đứng trước những yêu cầu mới đặt ra, vừa là cơ hội vừa là thách thức trong quá trình phát triển.Thứ nhất cần quan tâm, nỗ lực để nâng cao chất lượng giáo dục một cách toàn diện, đảm bảo phát huy hết năng lực, sở trường của học sinh. Thứ hai, cần phải nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên về sứ mệnh của giáo dục  nhà trường trong tình hình mới, trên cơ sở đó lan tỏa tới cha mẹ học sinh và nhân dân trong vúng để thu hẹp khoảng cách về chất lượng giáo dục, đào tạo giữa nhà trường với các quận nội thành. Chú trọng đầu tư cho cơ sở vật chất đảm bảo có đầy đủ các phòng học, các phòng chuyên môn, nghiệp vụ với đầy đủ các trang thiết bị tối thiểu phục vụ dạy và học, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa. Đồng thời, thực hiện tốt công tác xã hội hóa giáo dục, để tạo điều kiện, cơ hội cho mọi người được tham gia vào quá trình giáo dục - đào tạo, phát huy hết khả năng, hoàn thành tốt mục tiêu giáo dục đã đề ra.

Bước vào giai đoạn mới, Chi bộ đảng nhà trường có 26 đảng viên, chính thức 23,  dự bị 3 sinh hoạt ở 3 tổ đảng. Ngày 24  tháng 5 năm 2010,Đại hội Chi bộ lần thứ XIII nhiệm kỳ 2010 – 2015,  đã bầu cấp ủy gồm 5 đồng chí: Vũ Trí Thức bí thư, Nguyễn Văn Quảng Phó bí thư, Vũ Ngô Viết Đồng, Bùi Thị Dương Chung, Nguyễn Thị Thúy Hà chi ủy viên. Đại hội đã xác định mục tiêu chung  5 năm từ 2010 đến 2015 là giữ vững danh hiệu tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh; nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo; phấn đầu xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia giai đoạn 2010-2020. Đại hội đã đề ra chủ trương mang tính đột phá nhằm phát huy mọi tiềm năng xây dựng trường THPT Trần Đăng Ninh phát triển mạnh mẽ, toàn diện.Đó là, xác lập trật tự kỷ cương trong hoạt động dạy và học; tăng cường công tác bảo đảm an ninh trật tự an toàn trong và ngoài trường; đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin; đẩy mạnh công tác thi đua, công tác nghiên cứu khoa học và viết sáng kiến kinh nghiệm; tích cực tạo nguồn kinh phí xây dựng và cải tạo trường theo hướng chuẩn hóa hiện đại hóa.

Ban giám hiệu nhà trường, bắt đầu từ tháng 6/2011, thầy Vũ Trí Thức được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng. Các thầy, cô phó Hiệu trưởng là Ngô Thị Bích Ngân; Nguyễn Văn Quảng. Đến năm học 2013 – 2014 bổ sung thầy Vũ Ngô Viết Đồng; cô Nguyễn Thị Thúy Hà và 2017 là  cô Vũ Thị Thủy.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Sở GD- ĐT Hà Nội, ban giám hiệu trường THPT Trần Đăng Ninh luôn đổi mới công tác quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục; nỗ lực trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo mọi hoạt động của nhà trường. Qua các năm học, nhà trường đã tổ chức học tập, quán triệt đầy đủ các chỉ thị, nghị quyết, các văn bản của nghành tới toàn thể  cán bộ giáo viên nhân viên. Căn cứ vào các chủ trương, quan điểm của Đảng về giáo dục đào tạo trong thời kì  mới, các văn bản hướng dẫn của Bộ Giáo dục và đào tạo và trực tiếp là sự chỉ đạo của Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội; Chi ủy, Ban giám hiệu trường THPT Trần Đăng Ninh đã triển khai có hiệu quả các hoạt động trong nhà trường. Hàng năm nhà trường định hướng công tác chuyên môn là: Tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học; Thực hiện tích hợp giáo dục đạo đức, giáo dục kĩ năng sống, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông, chủ quyền biển đảo cho học sinh; Tiến hành có hiệu quả các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp theo các chủ đề; Khuyến khích, tổ chức, thu hút học sinh tham gia các hoạt động góp phần phát triển năng lực học sinh: trò chơi dân gian, năng khiếu thể dục - thể thao, giải toán trên internet, olimpic tiếng anh trên internet… Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá..Hiệu quả của sự lãnh đạo chỉ đạo đúng và trúng của Chi ủy, chi bộ và Ban giám hiệu giai đoạn này đã tạo ra được môi trường giáo dục an toàn, lành mạnh; hoạt động dạy và học đi vào kỷ cương nề nếp và chất lượng cao; phong trào thi đua dạy tốt – học tốt; phong trào nghiên cứu khoa học và viết sáng kiến kinh nghiệm đạt kết quả cao.

Trong công tác bảo đảm an ninh trật tự được Chủ tịch UBND thành phố tặng  Bằng khen các năm 2012, 2013,2014,2015 và năm 2016 Nhà trường được UBND thành phố tặng cờ Đơn vị thi đua xuất sắc trong phong trào Bảo vệ ANTQ. Năm 2013 Giám đốc Sở giáo dục và đào tạo Hà Nội tặng Giấy khen về công tác Bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trường học.Trong công tác chuyên môn: Kết quả  nổi bặt là công tác bồi dưỡng giáo viên giỏi, học sinh giỏi; Phong trào Sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm; Nghiên cứu khoa học, viết sáng kiến kinh nghiệm; kết quả giáo viên đạt các danh hiệu thi đua hàng năm.

Trong công tác bồi dưỡng giáo viên giỏi: Hàng năm liên tục có giáo viên đạt giải qua các kỳ thi giáo viên giỏi cấp thành phố, tiêu biểu 15 thầy cô đạt giải nhất, nhất, ba giáo viên giỏi thành phố; 03 nhân viên hành chính đạt giải Nhân viên văn phòng, y tế, thư viện giỏi. 5 thầy cô có sản phẩm đồ dùng dạy học tự làm đạt giải cấp thành phố; 02 thầy cô có Bài giảng điện tử;  5 thầy cô có Bài giảng tích hợp liên môn đạt giải thành phố dự thi quốc gia.  55 Thầy cô có đề tài sáng kiến kinh nghiệm đạt loại B,C cấp thành phố. 43 Thầy đạt Danh hiệu chiến sỹ thi đua cấp thành phố và cơ sở. Thành tích trong công tác bồi dưỡng học sinh giỏi tiếp tục  thu được kết quả ấn tượng: Hàng năm đội tuyển học sinh giỏi các môn văn hóa lớp 12 tham dự thi chọn HSG lớp 12  thành phố đều đạt từ 9 giải trở lên trong đó có nhiều giải nhất, nhì, ba, xếp tốp 2 các trường trong thành phố.Đội tuyển HSG lớp 10+11 thi Ôlimpic cụm các trường phía Nam Hà Nội luôn xếp nhất, nhì toàn đoàn với nhiếu giải Nhất. Năm học 2010-2011 đội tuyển Hóa xếp nhất thành phố;  2011 - 2012  đội tuyển toán, hóa đã xếp thứ  Nhì toàn Thành phố, môn Sinh xếp thứ ba…Tỷ lệ vào các trường Đại học hàng năm đều đạt từ 76 đến 82%.

Về cơ sở vật chất: Hội nhập với giáo dục thủ đô, trong những  năm từ  2008 - 2011, cơ sở vật chất Nhà trường lúc này có khu lớp học  3 tầng và 2 tầng với 29 phòng học. Khu hiệu bộ; khu hành chính và 2 phòng thực hành thí nghiệm; một nhà đa năng 320m2 và khu thể thao 1000m2. Tuy nhiên, về cơ bản phần lớn cơ sở vật chất đã xuống cấp nhất là khu 3 tầng được xây dựng gần 30 năm, hệ thống tường bao mưa gió mạnh là đổ từng mảng; sân trường ngập lụt mỗi khi trời mưa hoặc dân quang trường lấy nước canh tác..Thực hiện nghị quyết của Chi bộ, ban giám hiệu nhà trường đã tích cực chủ động và chỉ đạo quyết liệt công tác cải tạo trường và tăng cường cơ sở vật chất. Một mặt thực hiện công tác xã hội hóa vận động sự giúp đỡ của các thế hệ cựu học sinh nhà trường,của các nhà hảo tâm, các bậc cha mẹ học sinh; mặt khác tích cực xin kinh phí chống xuống cấp của Sở giáo dục và kinh phí xây dựng của thành phố. Cuối năm 2011, trường được Sở cấp kinh phí nâng cấp sân trường, cải tạo nhà vệ sinh. Năm 2012, bằng  nguồn xã hội hóa huy động từ các lớp, các cựu học sinh và  sự ủng hộ kinh phí của các nhà hảo tâm như Ông Tạ Minh Tư (xã Hòa Lâm), P.chủ tịch HĐQT cty cổ phần cáp treo Chùa Hương; Các doanh nghiệp: thép Tuyên Hòa, Xăng dầu Tiến Tới; tăm Hương Chung Tính, Bàng Hương; các cựu học sinh Nguyễn Duyên Hiếu, Nguyễn Ngọc Sơn HS khóa 1989 – 1992 ….. nhà trường đã tiến hành xây dựng và khánh thành tượng Chiến sỹ cộng sản Trần Đăng Ninh cùng với đó là tu tạo, chỉnh trang cảnh quan nhà trường. Năm 2014, bằng ngân sách của thành phố, trường khởi công Công trình xây dựng và cải tạo. Sau 2 năm thi công, trường đã có thêm khu xây dựng mới 3 tầng với các phòng thực hành thí nghiệm, phòng vi tính, phòng ngoại ngữ và phòng đa năng. Sân trường được lát gạch mới, cảnh quan khang trang xanh – sạch – đẹp.

Tổ chức Công đoàn nhà trường: Mở đầu  giai đoạn 2008 - 2013, Đại hội công đoàn nhiệm kỳ 2008 – 2013 đã bầu thầy Phạm Văn Hanh giũ chức vụ Chủ tịch công đoàn và Đại hội Công đoàn nhiệm kỳ 2014 – 2019 bầu thầy  Nguyễn Tiến Xuân làm Chủ tịch.

Hàng năm, Công đoàn  đã có nhiều giải pháp, biện pháp hữu hiệu nhằm thực hiện có hiệu quả cao các mặt công tác, tiêu biểu là: Tích cực và chủ động tham gia xây dựng các chế độ, chính sách liên quan trực tiếp đến quyền, lợi ích của công chức viên chức nhà trường; kiểm tra, giám sát việc thực hiện chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật; kiến nghị với cấp uỷ, Ban Giám hiệu, điều chỉnh một số điểm trong quy chế chi tiêu nội bộ cho phù hợp với tình hình mới theo hướng nâng cao đời sống cho đoàn viên.  Kịp thời động viên, hỗ trợ về vật chất và tinh thần cho những cán bộ đoàn viên có hoàn cảnh khó khăn như mắc bệnh hiểm nghèo, bị tai nạn; tổ chức các hoạt động văn nghệ, thể dục, thể thao chào mừng các ngày lễ lớn trong năm như tổ chức Hội thi  nữ công, tổ chức "giải thể thao công đoàn”. Trong hoạt động chuyên môn: Phối hợp chặt chẽ với chuyên môn  tổ chức các hoạt động đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy và quản lý. Thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở; vận động đoàn viên học tập nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, đổi mới phương pháp giảng dạy, đẩy mạnh nghiên cứu khoa học....Đẩy mạnh hoạt động dự giờ thăm lớp, động viên hoạt động viết sáng kiến kinh nghiệm. Trong công tác tuyên truyền vận động: chú trọng việc tuyên truyền, phổ biến, vận động thực hiện  đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Nghị quyết của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và các chủ trương, kế hoạch, quy định của ngành; đẩy mạnh phong trào xây dựng đời sống văn hóa, phong trào xây dựng gia đình nhà giáo văn hóa; tích cực thực hiện công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí và đấu tranh có hiệu quả với các biểu hiện tiêu cực;  đổi mới nội dung, phương pháp hoạt động Công đoàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.; đẩy mạnh công tác nữ công, thực hiện tốt phong trào thi đua "Giỏi việc trường, đảm việc nhà"; gặp mặt, tuyên dương các cháu con cán bộ trong trường đạt danh hiệu Học sinh giỏi các cấp; bình xét danh hiệu “Mẹ giỏi, con giỏi”.

Trải qua mười năm từ 2008 đến 2018, Công đoàn nhà trường đã vươn lên mạnh mẽ và đạt được những thành tích to lớn. Đặc biệt, liên tục từ năm 2011 đến 2017 Công đoàn  được công nhận là Tổ chức cơ sở vững mạnh; năm 2014 được tặng Bằng khen của Liên đoàn lao động thành phố; năm 2017 được tặng cờ thi đua xuất sắc của Liên đoàn lao động thành phố  và nhiều bằng khen, giấy khen.

Về công tác Đoàn: Từ 2008 đến 2018, Đại hội Đoàn trường hàng năm đã bầu Ban chấp hành đoàn trường do thầy Vũ Ngô Viết Đồng làm bí thư ( 2009-2013), thầy Nguyễn Đăng Quang từ  2013 đến nay.

Hàng năm Đoàn trường đã tổ chức học tập, quán triệt và thực hiện các Nghị quyết của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đoàn các cấp; ổ chức đăng ký các phần việc trong học tập và làm theo tấm gương đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; triển khai có hiệu quả các hình thức giáo dục lịch sử, truyền thống nhân dịp kỷ niệm các sự kiện lớn; đoàn trường  cũng đã làm tốt công tác thông tin tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng  góp phần nâng cao chất lượng hoạt động của tổ chức Đoàn; tuyên truyền, giáo dục và tổ chức triển khai thực hiện phong trào nếp sống văn hóa, ý thức, kỷ luật trong học tập, rèn luyện của ĐVTN. Tổ chức tuyên truyền quán triệt đoàn viên,thanh niên nghiêm chỉnh chấp hành Luật Giao thông đường bộ; không tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, buôn bán pháo, đèn trời; tham gia công tác giữ gìn an ninh trật tự, xây dựng nếp sống văn hóa tại trường, trên khu vực dân cư. Đối với phong trào “Xung kích sáng tạo” , đoàn trường đã phát động cuộc thi “Sáng tạo trẻ” trong  đoàn viên thanh niên toàn trường; khuyến khích, cổ vũ phong trào học ngoại ngữ trong chi đoàn cơ quan. Duy trì có hiệu quả hoạt động của các CLB nữ. Định hướng và chỉ đạo các chi đoàn tổ chức các buổi sinh hoạt, trao đổi về phương pháp học tập, chi đoàn giáo viên về đổi mới phương pháp giảng dạy, viết sáng kiến kinh nghiệm. Tổ chức tốt các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức cho ĐVTN những vấn đề về biển, đảo, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Tổ chức tốt các hoạt động của Đội TNXK, Đội cờ đỏ, các nhóm tự quản kiểm tra thực hiện nề nếp, nếp sống văn hóa, góp phần giữ gìn an ninh trật tự trong khu vực trường và trên địa bàn dân cư. Tổ chức các đợt hiến máu tình nguyện. Tuyên dương đoàn viên xuất sắc, học sinh nghèo vượt khó học giỏi.Thường xuyên tổ chức tập huấn, các hoạt động rèn luyện kỹ năng thực hành xã hội cho đoàn viên thanh niên.Tổ chức sôi nổi các hoạt động  văn nghệ, thể dục thể thao, tạo môi trường học tập, rèn luyện và giáo dục đoàn viên, thanh niên. Công tác bồi dưỡng, phát triển đoàn viên mới  được chú trọng thông qua  các lớp đối tượng Đoàn và kết nạp đoàn viên mới làm nguồn phát triển đảng viên cho chi bộ.

Trong những năm gần đây, hoạt động Đoàn của nhà trường đã đạt được những kết quả đáng tự hào. Qua các phong trào, các cuộc vận động: cuộc vận động “ Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, hoạt động giáo dục truyền thống của Đoàn gắn với các sự kiện lịch sử, hoạt động đền ơn đáp nghĩa và tri ân các anh hùng, liệt sĩ, chương trình “ Khi tôi 18”, cuộc vận động “ Thanh niên với văn hóa giao thông”, “Festival sáng tạo trẻ”, chương trình “ Đêm hội trăng rằm”…. Đoàn trường đã tăng cường giáo dục đạo đức, lối sống, bồi dưỡng lý tưởng cách mạng cho đoàn viên, thanh niên. Bên cạnh đó là  qua các buổi tập huấn, học tập, quán triệt qua các giờ chào cờ, hoạt động ngoại khóa, qua loa phát thanh và bằng băng zôn, pano, khẩu hiệu. Đoàn trường thường xuyên tổ chức các hoạt động giáo dục, bồi dưỡng, vun đắp lòng tự hào dân tộc, hướng về biên giới, biển đảo, tham gia bảo vệ chủ quyền Tổ quốc. Giáo dục truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn, tri ân thầy cô, xây dựng  trường học thân thiện, học sinh tích cực; giáo dục lòng tự hào về truyền thống  của Nhà trường... Tăng cường phối hợp với cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm trong việc chủ động nắm bắt tư tưởng, nhu cầu nguyện vọng của ĐVTN học sinh, kịp thời định hướng, uốn nắn những biểu hiện của suy nghĩ và hành vi tiêu cực; thông qua bí thư các các chi đoàn, đội thanh niên cờ đỏ, tổ chức thăm dò qua phiếu kín để nắm bắt dư luận, tư tưởng, diễn biến tâm lý của thanh niên, học sinh đặc biệt là việc tham gia các trang mạng xã hội. Năm học 2015-2016, Đoàn trường và các chi đoàn khối 12 đã triển khai hiệu quả phong trào “Khi tôi 18”,tham gia tích cực các hoạt động tư vấn hướng nghiệp nghề, tiếp sức mùa thi, trao đổi kinh nghiệm học và thi đạt kết quả cao. Tích cực tham gia các hoạt động nhân đạo,  từ thiện; Chương trình “Thắp sáng ước mơ tuổi trẻ Thủ đô”; thành lập và duy trì có hiệu quả hoạt động của các quỹ học bổng, câu lạc bộ Thắp sáng ước mơ; Tham gia phong trào Hiến máu nhân đạo; hỗ trợ cho giáo viên, học sinh mắc bệnh hiểm nghèo bằng tinh thần và vật chất.

Bằng những việc làm cụ thể và sáng tạo, Đoàn trường luôn khảng định rõ  là chỗ dựa vững chắc, trực tiếp tham mưu cho cấp ủy, chi bộ và Ban giám hiệu trong việc thực hiện nhiệm vụ tập hợp, tổ chức, giáo dục và rèn luyện đoàn viên, thanh niên. Hàng năm Đoàn trường đều được công nhận là tổ chức cơ sở đoàn vững mạnh; Nhiều năm là đơn vi dẫn đầu khối THPT; được TW Đoàn, thành đoàn, huyện đoàn tặng nhiều Bằng khen, giấy khen do có thành tích xuất sắc trong công tác đoàn và phong trào thanh niên.

Được sự quan tâm của các cấp bộ Đảng, của Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội, sự đoàn kết nhất trí của ban chi ủy, chi bộ, ban giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và tập thể hội đồng giáo dục của nhà trường, sau gần 10 năm hội nhập với giáo dục Hà nội, chất lượng  dạy và học của trường THPT Trần Đăng Ninh ngày càng phát triển bền vững, hình ảnh của nhà trường ngày càng tươi đẹp trong con mắt của nhân dân. Về phía  học sinh: Năm học 2016-2017, nhà trường có 36 lớp với 1478 học sinh. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao rõ rệt , tỉ lệ học sinh khá, giỏi toàn diện tăng, đạt 78,4% ; tỉ lệ học sinh đạt Hạnh kiểm khá, tốt đạt 96,7%, không còn học sinh  yếu về hạnh kiểm, kém về học lực. Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp đạt trên 99%; học sinh thi đỗ vào các trường đại học  đạt  76%. Phát huy truyền thống hiếu học của quê hương và tô thắm thêm bảng thành tích của nhà trường, nhiều em học sinh đã đạt được giải cao trong kì thi học sinh giỏi thành phố: Em Nguyễn Ngọc Yến 12A12 đạt giải Ba Quốc gia môn Vật lý; 5 thủ khoa đại học là các học sinh: Hồ Văn Quỳnh Đại học Thái Nguyên; Nguyễn Thị Tâm Học viện Hành chính Quốc gia; Nguyễn Thị Phương Thanh Đại học SP Hà Nội 2; Nguyễn Tiến Vượng Đại học Điện lực; Nguyễn Thị Thắm Đại học Điều dưỡng Nam Định.

Đội ngũ các thầy cô giáo: Có 92 người, sinh hoạt ở 6 tổ chuyên môn, 1 tổ hành chính , trong đó có 15 thạc sĩ. Về chi bộ Đảng có 34  đảng viên,sinh hoạt ở 3 tổ đảng. Công đoàn 92 công đoàn viên sinh hoạt ở 7 tổ công đoàn. Nhà trường thường xuyên  tăng cường chỉ đạo đổi mới sinh hoạt  tổ, nhóm chuyên môn: tăng cường dự giờ thăm lớp, thảo luận xây dựng những bài khó, đổi mới kiểm tra đánh giá. Đặc biệt, trong các kì thi giáo viên giỏi các cấp, các tổ, nhóm  chuyên môn đã bồi dưỡng, giúp đỡ giáo viên dự thi đạt kết quả cao.Tiêu biểu như thầy Lê Anh Tuấn đạt giải kK cuộc thi giáo viên giỏi môn Thể dục cấp thành phố năm học 2009-2010;  Lưu Tuấn Sơn đạt giải KK cuộc thi Nhân viên phòng giỏi cấp thành phố. Năm học 2011-2012, cô giáo Nguyễn Thị Thúy Hà đã đạt giải xuất sắc cuộc thi tích hợp tư tưởng Hồ Chí Minh trong môn Giáo dục công dân cấp thành phố; thầy Lê Xuân Cảnh đạt giải ba  hội thi “Sáng tạo đồ dùng giảng dạy tự làm” ngành giáo dục Hà Nội; thầy Hồ văn Quân đạt giải ba bài giảng điện tử Elearning. Năm học 2013-2014, nhà trường có bốn thầy cô giáo dự thi giáo viên giỏi thành phố đều đạt giải cao: Thầy giáo Bùi Tiến Công giáo viên thể dục, thầy Nguyễn Văn Kỳ giáo viên sinh học đạt giải ba giáo viên giỏi thành phố; Cô giáo Lê Thị Hương Duyên đạt giải nhất Hội thi tuyên truyền giáo dục pháp luật; cô giáo Nguyễn Thị Thùy đạt giải nhì Hội thi giáo viên chủ nhiệm giỏi. Năm học 2014-2015, cô giáo Bùi Thu Lựu, cô giáo Nguyễn thị Nguyệt giáo viên công nghệ đạt giải khuyến khích thành phố Hội thi giáo viên giỏi môn công nghệ. Năm học 2015-2016, cô giáo  Phạm Hoàng Loan đạt giải khuyến khích Hội thi giảng dạy “Tích hợp giáo dục môi trường trong môn Hóa Học”; thầy  Trần Bá Thọ đạt giải ba thành phố trong cuộc thi Sáng tạo đồ dùng dạy học tự làm. Các thầy cô: Đặng Thị Giang, Nguyễn Thị Nguyệt, Lê Xuân Cảnh, Hoàng Thị Thanh, Nguyễn Thị Thu Hiền đạt giải thi Bài soạn giáo án tích hợp liên môn, trong đó bài dự thi của cô Đặng Thị Giang xuất sắc đạt giải nhì thành phố, được đự thi cấp quốc gia. Năm học 2016-2017, trong hội thi giáo viên dạy giỏi môn sinh vật, cô Lê Thị Tuyết  đạt giải ba cấp thành phố.

Bảng vàng thành tích  trong giai đoạn hội nhập giáo dục thủ đô tử 2008 đến 2018, trường THPT Trần Đăng Ninh, được đón nhận danh hiệu “ tổ chức cơ sở đảng trong sạch, vững mạnh”; đạt và giữ vững  danh hiệu “Tập thể lao động xuất sắc” của ngành giáo dục thủ đô. Năm học 2011-2012 Nhà trường được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội công nhận “ Trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 1” ; UBND Huyện Ứng Hòa công nhận danh hiệu “ Cơ quan văn hóa” . Các tổ chuyên môn được tặng danh hiệu tổ lao động tiên tiến là các tổ: Tổ toán, tổ thể dục – GDCD – GDQP; tổ lý – công nghệ; tổ lịch sử - tin học; tổ hóa - sinh và  tổ ngữ văn. Nhiều các thầy cô giáo đã nêu cao tinh thần lao động không mệt mỏi, tự học, sáng tạo trong giảng dạy và công tác quản lí đã được nhận các phần thưởng cao quý: Cô Phạm Thị Tuyết Mai tổ trưởng tổ chuyên môn tổ văn – sử  đạt danh hiệu “Chiến sỹ thi đua cấp thành phố”; “Người tốt, việc tốt” tiêu biểu thủ đô; “Gia đình Nhà giáo tiêu biểu” của nghành GD&ĐT Hà Nội; Bằng khen của thủ tướng chính phủ. Thầy giáo Nguyễn Văn Quảng, Vũ Ngô Viết Đồng phó Hiệu trưởng được tặng Bằng khen của chủ tịch UBND thành phố.

Công đoàn Nhà trường liên tục được công nhận là “Tổ chức cơ sở vững mạnh”; năm 2014 được tặng Bằng khen của Liên đoàn lao động thành phố; năm 2017 được tặng cờ thi đua xuất sắc của Liên đoàn lao động thành phố và nhiều bằng khen, giấy khen khác.Trong phong trào văn hóa, văn nghệ TDTT do công đoàn ngành phát động  đạt nhiều thành tích cao: Tại cuộc thi Ngày hội thể thao công đoàn thành phố năm 2013 , giành  2 huy chương bạc môn cầu lông. Năm 2015, giành huy chương vàng cấp thành phố môn kéo co; huy chương đồng cấp thành phố môn bóng chuyền nam. Ghi nhận những nỗ lực và đóng góp của các công đoàn viên trường Trần Đăng Ninh, công đoàn nghành đã trao nhiều giấy khen cho các đồng chí  đã có thành tích xuất sắc trong hoạt động công đoàn, tiêu biểu: Phạm Văn Hanh, Nguyễn Tiến Xuân , Phạm Thị Tuyết Mai, Nguyễn thị Thúy Hà, Lê thị Hương Duyên, Kiều thị Phượng, Trần Bá Thọ …

Đoàn trường THPT Trần Đăng Ninh năm 2012, được nhận cờ thi đua xuất sắc do Trung ương Đoàn tặng. Đặc biệt, trong các năm 2013, 2014, 2015  được nhận bằng khen của Trung ương Đoàn, bằng khen của Thành Đoàn Hà Nội. Đội văn nghệ xếp giải ba thành phố; đội bóng đá nữ đạt huy chương vàng, huy chương bạc thành phố các năm 2010, 2011;2013. Các thầy cô Nguyễn Đăng Quang, Hoàng Xuân lộc, Nguyễn Bá Thơi, Mai Danh Suốt đã nhận được nhiều bằng khen, giấy khen và có nhiều đóng góp cho công tác đoàn và phong trào thanh niên nhà trường.

Trong giai đoạn 2008 2018, nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo. Năm 2012, Phó Chủ tịch nước cộng hòa XHCN Việt Nam Nguyễn Thị Doan gửi lẵng hoa chức mừng nhà trường; Phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Thị Bích Ngọc về thăm trường. Năm 2013, phó chủ tịch UBND thành phố Nguyễn Huy Tưởng về dự khai giảng năm học mới. Năm 2014 Bộ trưởng Bộ giáo dục và đào tạo Phạm Vũ Luận về dự Khi giảng và đáng trống Khi giảng năm học mới cho cả nước. Đồng chí Nguyễn Văn Sửu phó chủ nhiệm UBKT trung ương; Giám đốc sở giáo dục và đào tạo Hà Nội Nguyễn Hữu Độ; Vụ trưởng vụ giáo dục trung học Bộ giáo dục và đào tạo Nguyễn Đình Đức; các đồng chí Nguyễn Văn xuyên Bí thư Huyện ủy, Nguyễn Anh Tuấn phó bí thư thường trực; Nguyễn Quyết Chiến, Lê Hồng Hà Chủ tịch UBND Huyện Ứng Hòa cũng đã về dự khai giảng và Lễ kỷ niệm 20/11 của nhà trường. Đó là nguồn cổ vũ, động viên hết sức to lớn thể hiện sự quan tâm của các cấp lãnh đạo đối với một ngôi trường đang trên đà phát triển.

Đứng trước yêu cầu mới của sự phát triển nhà trường, Đại hội Chi bộ lần thứ XIV nhiệm kỳ 2015 – 2020, ngày 16 tháng 8 năm 2015,với sự có mặt của 32 đảng viên, chính thức 30 dự bị 02; sinh hoạt ở 4 tổ đảng.  Đại hội đã bầu cấp ủy gồm 5 đồng chí: Vũ Trí Thức bí thư, Nguyễn Văn Quảng Phó bí thư, Vũ Ngô Viết Đồng, Nguyễn Thị Thúy Hà, Nguyễn Đăng Quang chi ủy viên. Đại hội đã đề ra chỉ tiêu hoàn thành công nhận trường THPT Trần Đăng Ninh đạt chuẩn quốc gia năm 2017. Bên cạnh việc tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, có học sinh đạt giải quốc gia, thủ khoa đại học, là chú trọng nhiệm vụ từng bước xây dựng mẫu hình người giáo viên trường Trần Đăng Ninh với những  phẩm chất “ Vững vàng về chuyên môn - tinh thông về nghiệp vụ - tận tụy với công việc - tận tâm với nghề và hết lòng vì học sinh thân yêu”; xây dựng và hình thành ở học sinh nhà trường đặc trưng cơ bản là: “Cần cù – ham học – sáng tạo và thân thiện”.Toàn trường đang nỗ lực, phấn đấu vì mục tiêu đó.

Nhìn lại chặng đường mười năm Hội nhập với giáo dục thủ đô 2008 – 2018, tập thể cán bộ giáo viên nhân viên và học sinh nhà trường hôm nay, tự hào về những thành tích đã đạt được, khẳng định bước đi lên vững chắc và hội nhập có hiệu quả với giáo dục thủ đô. Nhà trường đã là khối thống nhất dưới sự lãnh đạo chỉ đạo của Chi bộ đảng. Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên nhà trường là một tập thể các thầy cô giáo chất lượng cao, không chỉ có kiến thức rộng, tầm nhìn sâu sắc mà còn là tấm gương sáng về nhân cách và phẩm hạnh. Thế hệ học sinh của nhà trường, là những học sinh của thủ đô văn minh thanh lịch, học tập tốt, rèn luyện tốt; những đặc trưng cần cù, ham học, sáng tạo và thân thiện đang dần hình thành ở các em. Đó là nguồn nội lực hết sức quan trọng và thuận lợi để trường THPT Trần Đăng Ninh vững bước trên những chặng đường tiếp theo. Để lại những bài học quý giá cho nhà trường: Nếu tạo được môi trường làm việc tốt; nếu tạo được sự động viên khích lệ tốt sẽ phát huy được hết năng lực chuyên môn, sở trường và lòng tận tâm của đội ngũ Nhà giáo. Phải đặt học sinh vào vị trí trung tâm của quá trình giáo dục của nhà trường; coi trọng giáo dục đạo đức - giáo dục ý thức công dân, thực hiện tốt phương châm “Tiên học lễ, hậu học văn”

Năm học 2017 – 2018, Trường THPT Trần Đăng Ninh, long trọng tổ chức kỷ niệm   40 năm  thành lập trường, thế hệ cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh hôm nay tự hào đã tiếp nối một cánh xuất sắc truyền thống 40 năm của mái trường Cấp III Ba Thá – THPT Trần Đăng Ninh; từng ngày, từng giờ nỗ lực vươn lên chiếm lĩnh những đỉnh cao mới trong sự nghiệp giáo dục làm rạng danh cho mái trường trên quê hương Ứng Hòa anh hùng. Thực hiện kỳ vọng  của  Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Trường THPT Trần Đăng Ninh phải là nơi sinh thành của những nhân cách công dân mới, những người trẻ tuổi tài năng và khát khao cống hiến noi gương đồng chí Trần Đăng Ninh”.

PHẦN III.

GIỮ GÌN TRUYỀN THỐNG, VỮNG BƯỚC TƯƠNG LAI.

"Lịch sử là thầy dạy của cuộc sống", không có lịch sử ta đánh mất đi quá khứ có nghĩa là không có niềm tự hào để bước lên phía trước. Tập thể cán bộ , giáo viên, nhân viên Trường THPT Trần Đăng Ninh đã nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc biên soạn lịch sử nhà trường. Việc làm có ý nghĩa này giúp cho mỗi cán bộ, giáo viên và học sinh hiểu truyền thống , tự hào về truyền thống vẻ vang của trường, từ đó giáo dục ý thức, trách nhiệm của cán bộ giáo viên và học sinh đối với mái trường mình đã và đang học tập, công tác.

Ghi nhớ lời dạy của Bác Hồ kính yêu “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây. Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”. Được sự quan tâm của các cấp, các nghành, niềm  mến  yêu, tin cậy của nhân dân, lòng nhiệt tình say mê nghề nghiệp của đội ngũ  nhà giáo, tinh thần hiếu học cần cù của các thế hệ học sinh, trường THPT Trần Đăng Ninh đã từng bước khẳng định vị thế của mình trở thành  điểm sáng của ngành GD&ĐT thủ đô.

40 năm tự hào với bảng vàng thành tích:  “Tập thể lao động  xuất  sắc” của nghành giáo dục  và đào tạo  thủ đô. Được tặng 01 Bằng khen của Thủ tướng chính phủ ; 02 Bằng khen của Bộ GD &ĐT. 02 cở thi đua xuất sắc của UBND thành phố Hà Nội; 15 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Nội. Danh hiệu “Trường học thân thiện, học sinh tích cực.”;  “Đơn vị văn hóa”, “Đơn vị xuất sắc về phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc”; “Đơn vị xuất sắc về phong trào thể dục thể thao”

Chi bộ Đảng Nhà trường là “Tổ chức CS Đảng trong sạch vững mạnh”. 02  Giấy khen của Huyện ủy Ứng Hòa. Công đoàn được tặng 01 cờ thi đua xuất sắc, 01 Bằng khen của Liên đoàn lao động thành phố. Đoàn thanh niên nhà trường 03 lần là đơn vị dẫn đầu khối  các trường THPT; 01 Cờ thi đua xuất sắc, 07  Bằng khen của TW đoàn. 15 Bằng khen của tỉnh đoàn Hà Tây và thành đoàn Hà Nội.

Đội ngũ Giáo viên của nhà trường qua các thời kỳ:  Có 52 thầy cô đạt Danh hiệu CS thi đua, giáo viên giỏi các cấp, trong đó 02  GV đạt Danh hiệu Chiến sỹ thi đua  cấp thành phố; 43  giáo viên đạt danh hiệu Chiến sỹ thi đua  cấp cơ sở. 01 giáo viên  đạt Danh hiệu “Người tốt việc tốt tiêu biểu của thủ đô”,  05 giáo viên đạt Danh hiệu “Cô giáo người mẹ hiền”, 02 gia đình giáo viên đạt Danh hiệu  “Gia đình Nhà giáo tiêu biểu” của Công đoàn nghành giáo dục đào tạo Hà Nội. 02 Bằng khen của Thủ tướng chính phủ; 13 Bằng khen của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tây và thành phố Hà Nội. 19 giấy khen các cấp.

Trải qua 40  năm nhà trường đã đào tạo trên 2500  học sinh  tốt nghiệp THPT. 01 học sinh đạt giải quốc gia. 98 HS đạt giải nhất nhì ba cấp tỉnh - thành phố;  31  học sinh giỏi xuất sắc tiêu biểu, 16 Huy chương vàng, bạc về  văn nghệ thể dục thể thao. Đạt 01 giải Ba, 01 giải khuyến khích thi “Sáng tạo khoa hoc kỹ thuật” cấp thành phố; 02 giải thưởng Lý Tự trọng, 01 giải “Nữ sinh Việt Nam”. Có 5 học sinh lớp 12 thi đầu vào  là thủ khoa  của các trường Đại học. Học sinh tốt nghiệp  ra trường đã thành công trên nhiều lĩnh vực tiêu biểu: Anh Đào Tiến Phó tổng giám đốc tập đoàn dầu khí Việt Nam; tiến sỹ Kim Ngọc Đại – Đại tá, trưởng phòng tổ chức Trường sỹ quan lục quân I;  tiến sỹ Nguyễn Văn Quân  Phó giám đốc Bệnh viện K trung ương; thạc sỹ - bác sỹ Nguyễn Văn Thắng Giám đốc Bệnh viện Tâm Thần Ba Thá; Thạc sỹ Bùi Tuấn Quang chánh văn phòng Ban dân vận TW; Đại tá Nguyễn Văn Dũng Sư trưởng sư đoàn 308; thạc sỹ Nguyễn Văn Hiếu Tổng Giám đốc Cty vận tải dầu khí;  thạc sỹ Nguyễn Ngọc Sơn Tổng Giám đốc Cty thiết bị xăng xầu; Thượng tá Trương Văn Hải Trưởng công an Huyện Tân Lạc Hòa Bình; thạc sỹ Nguyễn Văn Vĩnh trưởng Ban biên tập Đài truyền hình tỉnh Hòa Bình; tiến sỹ Nghiêm Trung Dũng trưởng khoa nội tiết Bệnh viện Bạch Mai; thạc sỹ Đỗ Năng Bình UV UBTV huyện ủy Ứng Hòa; thạc sỹ Nguyễn Thị Thúy Hà Chánh văn phòng UBND huyện Ứng Hòa….

Hiện nay, trường có 36 lớp với gần 1500 học sinh. Cơ ngơi của nhà trường khuôn viên rộng 22000 m2, với 2 khu riêng biệt. Khu học tập gồm một dãy nhà 3  tầng và 2 tầng với 25 phòng học; một dãy nhà 3 tầng thực hành thí nghiệm; Nhà hiệu bộ, nhà truyền thống. Khu thể thao gồm nhà đa năng và sân vận động. Các phòng tin học, ngoại ngữ, phòng bộ môn được trang bị phương tiện dạy học hiện đại, hệ thống mạng Internet kết nối toàn bộ hệ thống máy tính các phòng ban nhằm phục vụ công tác dạy học quản lí. Thư viện trường đạt chuẩn quốc gia với đủ phòng đọc cho giáo viên, học sinh và hơn 3600 đầu sách. Cảnh quan môi trường  xanh, sạch, đẹp. Cơ sở vật chất đạt chuẩn quốc gia.

Trường 92 CB-GV nhân viên, 06 tổ chuyên môn và 01 tổ hành chính – văn phòng. Chi bộ đảng nhà trường có 34 đảng viên, sinh hoạt ở 4 tổ đảng. 100% CBGV, nhân viên đạt chuẩn  và trên chuẩn đào tạo, trong đó có 15 là thạc sỹ.

Tìm lại dấu chân xưa để tri ân người đi trước. Giữ mãi ngọn lửa hồng cho rạng tới mai sau.Trên bước đi vững chắc của nhà trường hôm nay, luôn ghi nhớ công lao của  những người đặt viên gạch đầu tiên. Các thầy cô đã có mặt ở trường những ngày đầu lập trường - dựng lớp đầy gian nan và thử thách, góp sức cho sự nghiệp giáo dục của quê hương. Các thế hệ giáo viên và học sinh nhà trường không thể nào quên tấm gương lao động, cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp giáo dục của nhà trường như các thầy hiệu trưởng: Nguyễn Văn Khuyến, Nguyễn Kim Bôi; các thầy phó Hiệu trưởng Nguyễn Văn Minh, Lê Xuân Mai, Nguyễn Đức Vĩnh, Đỗ Đức Phong, Tạ Thiện Ngọ và bao thầy, cô đã gắn bó với  mái trường, nhẫn nại, lặng thầm gieo hạt ươm mầm xanh các thế hệ. Các thầy cô đã gửi lại năm tháng tuổi trẻ và sức lực tại nơi đây. Trong số đó có thầy cô đã  đi vào cõi vĩnh hằng, nhiều thầy cô đã trở  thành nhà quản lý, nhà khoa học. Dù ở đâu, bất kỳ cương vị công tác nào các thầy cô vẫn nhớ về mái trường Cấp 3 Ba Thá – THPT Trần Đăng Ninh - Nơi đã in dấu một thời để nhớ – Một thời đầy gian khó nhưng sâu nặng nghĩa tình.

Nhiều học sinh của trường hiện đã trở thành giáo sư, tiến sỹ, kỹ sư, cán bộ cao cấp của Nhà nước,của quân đội, cán bộ chủ chốt của tỉnh, huyện, xã.  Một số em trở về công tác tại  mái trường xưa. Ở nơi đâu, đã thành danh hay còn đang tất bật trên dòng đời xuôi ngược, là kỹ sư, bác sĩ, giáo viên, sĩ quan quân đội, nhà quản lý hay là người nông dân trên đồng ruộng quê nhà, các thế hệ học sinh trường THPT Trần Đăng Ninh vẫn ngày đêm tích cực học tập, làm việc trên mọi lĩnh vực, góp sức vào công cuộc xây dựng  quê hương đất nước và hướng về mái trường thân yêu.

Trong giai đoạn mới, để giữ vững truyền thống nhà trường và phát huy có hiệu quả trong chặng đường tiếp theo, những bài học kinh nghiệm luôn mang tính thời sự cho thế hệ  hôm nay là: Muốn nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường , phải bắt đầu từ đội ngũ nhà giáo. Trước hết, đội ngũ giáo viên phải  giỏi về chuyên môn, tinnh thông về nghiệp vụ và là tấm gương đạo đức, sáng tạo cho học sinh noi theo. Bản thân giáo viên phải không ngừng tự học tự rèn luyện; tích cực tham gia các phong trào thi đua; đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng CNTT và thiết bị dạy học; không ngừng rèn luyện và tu dưỡng để đáp ứng tốt hơn đòi hỏi của sự phát triển giáo dục. Nhà trường, phải thường xuyên tạo điều kiện cho giáo viên tham gia học tập, tự học nâng cao kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, trình độ lý luận chính trị; tăng cường công tác giáo dục tư tưởng chính trị, tạo môi trường công tác tốt và khích lệ động viên kịp thời để từng bước hình thành phẩm chất người giáo viên của trường là: Vững vàng về chuyên môn, tinh thông về nghiệp vụ, tận tụy với công việc, tận tâm với nghề, hết lòng vì học sinh thân yêu.

Nhà trường phải tiếp tục đẩy mạnh  giáo dục toàn diện cả về đức – trí – thể - mỹ; giáo dục kĩ năng sống, bồi dưỡng lý tưởng cao đẹp, qua đó hình thành nhân cách của học sinh: Cần cù, ham học, sáng tạo và thân thiện. Chú trọng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá, phát huy năng lực  tư duy của học sinh; làm tốt công tác tham mưu, phát huy sức mạnh tổng hợp, tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học, xây dựng nhà trường theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và giữ vững các danh hiệu đạt được.

Thành quả mà trường THPT Trần Đăng Ninh đạt được là cả  sự nỗ lực không biết mệt mỏi của tập thể hội đồng giáo dục nhà trường và các thế hệ học sinh – Đó là tiền đề vững chắc để nhà trường vươn lên tầm cao mới. Nhiệm vụ đặt ra cho nhà trường ở chặng đường phía trước còn nhiều khó khăn và thử thách. Nhưng, với sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng, Chính quyền, Sở giáo dục đào tạo; các cơ quan, đơn vị kết nghĩa, các bậc cha mẹ học sinh, các cựu học sinh, trường THPT Trần Đăng Ninh nhất định sẽ gặt hái nhiều thành công mới trong sự nghiệp trồng người, nối dài  trang sử của một ngôi trường có tuổi đời  40 năm trên quê hương Ứng Hòa anh hùng và hiếu học./.

CHỈ ĐẠO NỘI DUNG

Ban giám hiệu Trường THPT Trần Đăng Ninh

BAN BIÊN TẬP

Vũ Trí Thức (Chủ biên)

Phạm Thị Tuyết Mai – Nguyễn Quang Vinh – Đặng Thị Giang

Và Tổ Lịch sử.(Biên soạn)

 

-------------------------------