Danh mục Tổ chức

quang phu cau

thai ngoc tuan

Những câu chuyện về hóa học và đời sống

PDF.InEmail

Vai trò sinh học của silic

Silic rất cần cho thực vật cũng như cho động vật và người.

Thực vật sử dụng silic để tạo các mô thực bì . silic làm cho thành tế bào cứng hơn và mền hơn , tránh được sự phá huỷ của côn trùng và sự sâm nhập của nấm móc .

Silic có trong hầu hết tế bào của động vật và người , đặt biệt ở tuyến tuỵ, gan , lông , toc, xương, răng, sụp rất giàu silic. Trong sương, răng và sụp của bệnh nhân lao, l;ượng silic giảm đáng kể so với ngưởi khoẻ mạnh. Ở những người bị bệnh eczema, vẩy nến, hàm lượng silic trong máu giảm rõ rệt, còn bị bẹnh đại tràng thì ngược lại, hàm lượng silic trong máu tăng lên.

Vai trò sinh học của photpho

Photpho rất cần cho người và động vật. Trong cơ thể người khoảng 90% photpho tập trung ở xương, khoảng 10% tập trung ở các cơ, gần 1% ở các tế bào não (dưới dạng các hợp chất vô cơ và hữu cơ). Ở các cơ, gan, não và các bộ phận khác của cơ thể, photpho nằm dưới dạng các photphatit và các este của axit photphoric.

Viện sĩ A.E Fecman gọi photpho là “nguyên tố của sự sống và tư duy”. Người lao động trí óc cần lượng photpho nhiều hơn để không bị suy mòn các tế bào thần kinh giữ chức năng chuyển tải những ý nghĩ khi làm việc bằng trí óc. Cơ thể thiếu photpho sẽ giảm khả năng làm việc, loạn thần kinh chức năng và phá huỷ sự trao đổi chất. Ăn các loại rau, quả như xà lách, đỗ, cà rốt, cà chua, cà tím, ớt ngọt, dâu tây, mơ,… sẽ bổ sung cho cơ thể lượng photpho bị thiếu hụt. Các thực phẩm giàu photpho có nguồn gốc động vật gồm có thịt, óc, gan bò, cá, trứng, các sản phẩm sữa…

Muối Iot

Để cơ thể khoẻ mạnh, con người cần được cung cấp đầy đủ các nguyên tố hoá học cần thiết. Có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng lớn và có những nguyên tố cần được cung cấp với khối lượng nhỏ (vi lượng). Iot là một nguyên tố vi lượng hết sức cần thiết đối với con người. Theo các nhà khoa học, mỗi ngày cơ thể con người cần được cung cấp từ 1.10-4 đến 2.10-4 gam nguyên tố iot.

Cơ thể tiếp nhận được phần iot cần thiết dươi dạng hợp chất của iot có sẵn trong muối ăn và một số loại thực phẩm. Nhưng việc thiếu hụt iot vẫn thường xảy ra. Hiện nay, tính trên toàn thế giới một phần ba số dân bị thiếu iot trong cơ thể. Ở Việt Nam, theo điều tra mới nhất, 94% số dân thiếu hụt iot ở những mức độ khác nhau.

Thiếu hụt iot trong cơ thể dẫn đến hậu quả rất tai hại. Thiếu iot làm não bị hư hại nên người ta trở nên đần độn, chậm chạp, có thể điếc, câm, liệt chi, lùn. Thiếu iot còn gây ra bệnh bướu cổ và hàng loạt rối loạn khác, đặc biệt nguy hiểm đối với bà mẹ và trẻ em.

Để khắc phục sự thiếu hụt iot, người ta phải cho them hợp chất của iot vào thực phẩm như : muối ăn, sữa, kẹo…

Việc dùng muối ăn làm phương tiện chuyển tải iot vào cơ thể người được nhiều nước áp dụng.

Muối iot là muối ăn có trộn them một lượng nhỏ hợp chất của iot (thường là KI hoặc KIO3). Thí dụ : Trộn 25 kg KI vào một tấn muối ăn.

Người ta cũng cho them hợp chất iot vào bột canh, nước mắm…

Việc dùng muối iot thật dễ dàng và đơn giản. Về mùi vị, màu sắc, muối iot không khác gì muối ăn thường. Tuy nhiên hợp chất iot có thể bị phân huỷ ở nhiệt độ cao. Vì vậy phải thêm muối iot sau khi thực phẩm đã được nấu chín.

Khí hiđro sunfua của biển Đen

Ở đáy của Biển Đen, khí hiđra sunfua hình thành một cách thường xuyên do các muối sunfat hoà tan trong nước biển tương tác với các chất hữu cơ thải xuống biển.

CaSO4 + CH4 => CaS + CO2 ­ + 2H2O

CaS + H2O + CO2 => CaCO3 + H2S ­

Trong những phản ứng này, canxi sunfat CaSO4 đã chuyển hoá thành canxi sunfua CaS và cacbon đioxit CO2, sau đó CaS tương tác với cacbon đioxit CO2 và nước, chuyển hoá thành canxi cacbonat CaCO3 và lắng xuống đáy biển, đồng thời giải phóng ra khí hiđro sunfua H2S.

Quá trình này lien quan đến hoạt động sống của các vi sinh vật chuyển hoá sunfat. Khí H2S không kịp bốc lên đến các tầng nước mặt vì rằng tại độ sâu khoảng 150m nó đã gặp oxi khuếch tán từ trên tầng nước mặt xuyên sâu xuống. Cũng tại độ sâu này có nhiều vi khuẩn lưu huỳnh sinh sống, có khả năng oxi hoá H2S thành lưu huỳnh.

2H2S + O2 => 2H2O + 2S

Trong những năm gần đây liên quan đến thảm hoạ ô nhiễm Biển Đen, ranh giới phía trên của mực nước biển có mặt khí H2S càng nâng cao lên dần đã iêu diệt hoàn toàn mọi sinh vật trên đường dịch chuyển ranh giới. Ranh giới chết này gần đây đã nâng lên đến độ sâu 40m kể từ mặt nước biển.

Flo có độc hại không ?

Flo F2 ở thể khí, độc chết người. Ảnh hưởng của flo dưới dạng ion âm F- lên động vật và thực vật cũng đã được biết khá rõ : ở liều thấp là có ích, còn ở liều cao gây huỷ hoại nghiêm trọng hoạt động sống. Ion florua vào cơ thể động vật và người theo nước uống. Nếu hàm lượng flo trong nước dưới 0,5 mg/l thì răng sẽ bị chứng sâu răng nhưng khi quá 1,2 mg/l cũng vẫn gây bệng răng – bệnh thừa flo và diễn ra sự rối loạn trao đổi photpho – canxi trong cơ thể.

Người ta đã từng biết trường hợp sau : Sau Đại chiến thế giới II, theo “kế hoạch Macsan” một số Công ti Mĩ nhập bia vào Pháp. Vì chuyên chở kéo dài thời gian, bia nhanh chóng bị giảm chất lượng. Để ổn định chất lượng bia, người ta them vào bia một lượng axit flohiđric HF không đáng kể, thế là bia vẫn giữ được phẩm chất. Chẳng bao lâu, tại Pháp người ta đã ghi nhận được mười ngàn trường hợp bị hỏng men răng ở những người nghiện bia ướp lạnh. Thừa flo đã gây ra bệnh tai hại mà tiếng Hi Lạp gọi là bệnh “fluoros” tức là bệnh phá huỷ răng.

Ngọn lửa màu xanh không gây bỏng

Vào năm 1796 Vinhem Lampađiuxơ (1722 – 1842), tiến sĩ hoá học và luyện kim của Viện Mỏ ở Phreibua (Xacxôni), lần đầu tiên đã điều chế được hợp chất của cacbon và lưu huỳnh khi cho hơi lưu huỳnh S đi qua than củi nung nóng đỏ. Hoá chất có tên gọi là cacbon đisunfua CS2 :

C + 2S => CS2

Chất lỏng (CS2) do ông điều chế lập tức thể hiện các tính chất không bình thường của mình. Khi Lampađiuxơ nhúng vào chất lỏng một chiếc đũa thuỷ tinh đã đun nóng thì thấy xuất hiện ngọn lửa nguội màu xanh, không hề làm bỏng ngón tay.

Thuốc chuột

Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống. Vậy thuốc chuột là gì ? Cái gì đã làm chuột chết ? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước uống nó chết mau hơn hay lâu hơn ?

Thuốc chuột là Zn3P2, sau khi ăn Zn3P2 bị thuỷ phân rất mạnh, hàm lượng nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước :

Zn3P2 + 6H2O => 3Zn(OH)2 + 2PH3 ­

Chính PH3 đã giết chết chuột.

Càng nhiều nước đưa vào => PH3 thoát ra càng nhiều => chuột càng nhanh chết. Nếu không có nước chuột chết lâu hơn.

Một phương pháp sản xuất hiđro trong công nghiệp

Khoảng 75% hiđro được sản xuất bằng quá trình refominh hơi nước. Trong quá trình này metan (trong khí thiên nhiên) và hơi nước phản ứng với nhau tạo ra hiđro và cacbon monooxit. Phản ứng refominh hơi nước được thực hiện theo hai giai đoạn : giai đoạn refoming sơ cấp và refominh thứ cấp. Trong giai đoạn sơ cấp hỗn hợp hơi nước và metan được nén khoảng 30 atm và được đốt nóng trên chất xúc tác niken ở khoảng 8000C. Giai đoạn thứ cấp được thực hiện ở nhiệt độ cao hơn (khoảng 10000C) với sự có mặt của không khí để chuyển hoá metan còn lại ở giai đoạn sơ cấp. Hai phản ứng chính là:

CH4(k) + H2O(k) <=> CO(k) + 3H2(k) ; ΔH > 0 : giai đoạn sơ cấp

2CH4(k) + O2(k) <=> 2CO(k) + 4H2(k) ; ΔH < 0 : giai đoạn thứ cấp

(CO trong sản phẩm được chuyển thành CO2 dùng cho sản xuất của urê).

Do cả hai phản ứng đều thu nhiệt, nên theo nguyên lí Lơ Sa-tơ-li-ê, quá trình tạo ra sản phẩm thuận lợi ở nhiệt độ cao.

Ở áp suất cao, không thuận lợi cho quá trình tạo ra H2, vì cả hai phản ứng đều có số mol khí của sản phẩm lớn hơn số mol khí của các chất tham gia. Tuy nhiên, trong thực tế các phản ứng trên đều thực hiện ở áp suất cao, vì H2 tạo ra được sử dụng khép kín để tổng hợp NH3 (đi từ N2 và H2, ở áp suất cao, hiệu suất tạo thành NH3 cao hơn. Nhà máy phân đạm ở Phú Mỹ, Bà Rịa – Vũng Tàu nước ta sản xuất NH3 (sau đó thành urê) theo quy trình khép kín này.

pH và sự sâu răng

Răng được bảo vệ bởi lớp men cứng, dày khoảng 2mm. Lớp men này là hợp chất Ca5(PO4)3OH và được tạo thành bằng phản ứng :

5Ca2+ + 3PO43- + OH- <=> Ca5(PO4)3OH (1)

Qúa trình tạo lớp men này là sự bảo vệ tự nhiên của con người chống lại bệnh sâu răng.

Sau bữa ăn, vi khuẩn trong miệng tấn công các thức ăn còn lưu lại trên răng tạo thành các axit hữu cơ như axit axetic, axit lactic. Thức ăn với hàm lượng đường cao tạo điều kiện tốt nhất cho việc sản sinh ra các axit đó.

Lượng axit trong miệng tăng, pH giảm, làm cho phản ứng sau xảy ra :

H+ + OH- => H2O

Khi nồng độ OH- giảm, theo nguyên lí Lơ Sa-tơ-li-ê, cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều nghịch và men răng bị mòn, tạo điều kiện cho sâu răng phát triển.

Biện pháp tốt nhất phòng sâu răng là ăn thức ăn ít chua, ít đường, đánh răng sau khi ăn. Người ta thường trộn vào thuốc đánh răng NaF hay SnF2, vì ion F- tạo điều kiện cho phản ứng sau xảy ra :

5Ca2+ + 3PO43- + F- => Ca5(PO4)3F

Hợp chất Ca5(PO4)3F là men răng thay một phần Ca5(PO4)3OH.

Ở nước ta, một số người có thói quen ăn trầu rất tốt cho việc tạo men răng theo phản ứng (1), vì trong trầu có vôi tôi Ca(OH)2, chứa Ca2+ và OH- làm cho cân bằng (1) chuyển dịch theo chiều thuận.

Tinh thể phân tử nước đá

Tại sao nước lỏng thì linh động và nặng, nước đá thì cứng và nhẹ hơn nước lỏng ?

Điều đó được giải thích như sau : Trong nước lỏng có phân tử nước chuyển động một cách dễ dàng và ở gần nhau. Nhưng trong tinh thể nước đá các phân tử nước sắp xếp theo một thứ tự nhất định, các phân tử nước ở cách xa nhau hơn trong nước lỏng. Trong tinh thể nước đá, mỗi phân tử nước lien kết với 4 phân tử gần nhất nằm trên 4 đỉnh của một tứ diện đều. Mỗi phân tử nước ở đỉnh lại lien kết với 4 phân tử khác nằm ở 4 đỉnh của hình tứ diện đều khác và cứ tiếp tục như vậy. Cấu trúc tứ diện của tinh thể nước đá là cấu trúc rỗng, nên nước đá có khối lượng riêng < khối lượng riêng của nước lỏng. Các phân tử nước lien kết với nhau bằng lien kết yếu giữa các phân tử. Do cấu trúc tứ diện đều mà tinh thể phân tử nước đá cứng.

Vì sao phân tử CO2 có cấu trúc thẳng

Trong phân tử, mỗi cặp electron (e) lien kết cũng như không lien kết chiếm một khu vực xung quanh nguyên tử trung tâm. Khu vực đó mang điện tích âm. Vì mang điện cùng dấu nên mỗi cặp e liên kết, cũng như không lien kết đẩy nhau để các khu vực mang điện đó ở càng xa nhau càng tốt, nói cách khác là chúng đẩy nhau để góc lien kết càng lớn càng tốt.

Cặp e không lien kết đẩy mạnh hơn cặp e lien kết. Ở phân tử CO2, xung quanh nguyên tử trung tâm C không có cặp e không liên kết, chỉ có hai khu vực mang điện tích âm đẩy nhau, nên góc hoá trị lớn nhất là 180O, phân tử có cấu tạo thẳng

Máu của hoá học

Không có axit nào cần thiết hơn và được sử dụng thường xuyên hơn axit sunfuric. Người ta dùng nó chủ yếu như một bán thành phẩm : nhiều xí nghiệp sản xuất axit sunfuric chế biến tiếp nó trong những quá trình khác nhau.

Sản xuất sợi tổng hợp và supephotphat cần dùng một lượng lớn axit sunfuric. Axit này còn cần thiết đối với các ngành sản xuất chất nhuộm, chất nổi, chất bảo quản, chất độc hoá học (các loại nông dược), thuốc chữa bệnh và chất tẩy rửa.

Axit sunfuric đậm đặc cũng cần thiết đối với hầu hết các xí nghiệp thuộc công nghiệp luyện kim và khai thác mỏ để làm dầu quặng. Trong công nghiệp, axit sunfuric đậm đặc dùng để làm khô nhiều chất khí và cũng nhờ axit sunfuric mà có thể tách các tạp chất từ dầu mỏ. Cuối cùng, axit sunfuric dùng làm chất điện li trong các ac quy chì.

Không phải nhẫu nhiên mà các kế hoạch phát triển công nghiệp hoá chất trong tương lai của bất cứ nước nào cũng phải tăng sản lượng axit sunfuric và một số lớn thiết bị dùng vào mục đích này.

Nguồn gốc của tên gọi “Chymeia” (Hoá học)

Người ta cho rằng ở nước Ai Cập lần đầu tiên đã xuất hiện tên gọi “CHYMEIA” (Hoá học) để chỉ “nghệ thuật bí mật thiêng liêng”. Tên gọi này xuấn hiện trong các tài liệu bằng chữ Hi Lạp vào khoảng thế kỉ thứ IV và được các tác giả ALEXSANDRE trích dân như 1 thuật ngữ đã dược biết đến từ lâu. Zoxima , 1 tác giả thời kì này đã giải thích rằng tên gọi này bắt nguồn từ tên của nhà tiên tri KHEMON . tuy nhiên cách giải thích này không thuyết phục mọi người.

Một số tác giả cho rằng từ ” Khima ” đã có trong các bản viết tay AI CẬP từ thế kỉ thứ III trước công nguyên và cho rằng tên gọi ” CHYMEIA ” theo cách hiểu ban đầu nghĩa là “nghệ thuật nấu kim loại”.

Bectole ( B.M Berthlot ) cho rằng tên “Chymeia” bắt nguồn từ “Chemi” hay “Chuma” nghĩa là “đất den”, đồng thời là tên gọi của toàn thể đất nước Ai Cập. Khi chuyển sang Latinh từ này ứng với “Humus” nghĩa là đất.

Phần lớn các nhà lịch sử hóa học thiên về ý kiến cho rằng tên gọi “Chymeia” bắt đầu từ Hi Lạp cổ “Chemi” và giải thích rằng tên gọi này với ý nghĩa ban đầu của nó chỉ là lĩnh vực tri thức về khoáng vật và những thứ nằm trong lòng đất.

Cách giải thích khác cho rằng “Chymeia” có nguồn gốc từ chữ “Kim” của Trung Quốc nghĩa là vàng.

Vào thời kì giả kim thuật (the ki thu VII), người Ả Rập thêm tiếp đầu ngữ “al” của tiếng Ả Rập vào và thành một thuật ngữ mới “Alchymeia”, biểu thị nghệ thuật biến đổi các kim loại không quý, chế thuốc trường sinh.

Tại sao bột ngọt lại ngọt?

Để tăng thêm vị ngột cho thức ăn, trong quá trình chế biến, nguồi ta thêm vào ít bột ngọt. Thức ăn sau khi thêm bột ngọt sẽ có mùi vị ngon ngọt hơn. Vậy tại sao bột ngọt lại có tác dụng làm tăng vị ngọt cho thức ăn?

Do trong bột ngọt chứa chủ yếu natri glutamat tạo nên vị ngọt. Axit glutamic là một trong các aminoaxit tạo thành các protein. Nhưng khi các phân tử axit glutamic kết hợp với nhau tạo thành phân tử protein thì không có vị ngọt, do đó người ta phải dùng axit clohidric phân giải các chất để giải phóng ra axit glutamic.

Khi đã có axit glutamic đem trung hoà thì được natri glutamiat có vị ngon ngọt. Đem bột ngọt pha loãng đi 2000 lần vẫn còn nhận ra được vị ngọt. Nếu đem bột ngọt trộn với muối ăn thì vị ngọt đậm hơn, muối ăn là chất có tác dụng trợ ngọt.

Bột ngọt là muối natri của axit glutaic. Axit glutamic không phải là một aminoaxit cần thiết cho cơ thể nên không có giá trị dinh dưỡng cao nhưng vì có vị ngọt nên làm cho món ăn ngon hơn.

Hiểu như thế nào?

Khi ăn xong một tô phở hay một tô bún, người ta cho một ít nước trà vào tô. tại sao nên làm như vậy?

Việc này nhằm mục đích để biết trong tô phở (bún) có nhiều đạm (protein) hay không. Do trong nước trà có chất tanin, khi gặp protein sẽ kết tủa. Nếu kết tủa càng nhiều thì tô phở  hay bún càng có có chất lượng. Tuy nhiên khi ăn ta cũng có thể cảm nhận được chất lượng tô phở hay bún nhưng ta chưa định lượng được nhiều hay ít.

Có nên dùng lại dầu đã rán (chiên)

trong quá trình chế biến thức ăn, người ta thường dùng một lượng lớn dầu để rán, chiên thực phẩm. Tuy nhiên sau khi chế biến, lượng dầu đã dùng vẫn còn thừa, một số người vẫn giữ lại để dùng cho những lần sau. Dùng cách này có thể tiết kiệm được dầu, nhưng theo quan điểm khoa học loại dầuu đã dùng này không nên sử dùng lại.

Do thành phần chính của dầu ăn là những este của axit béo. Khi đem dầu chiên rán ở nhiệt độ cao sẽ phát sinh nhiều bêến đổi hóa học, tạo ra các chất độc và làm giảm giá trị dinh dưỡng của dầu. Khi đun nóng dầu ăn ở 200-300 độ C thì các este này sẽ phân hủy thành: andehit, xeton, các andehit cacboxilic, este và nhiều phân tử nhỏ khác nữa. Các hợp chất này làm cho dầu có mùi khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe.

Bí mật của chảo không dính

Trên bề mặt các loại chảo không dính được phủ một lớp chất chống dính có tên là politetrafloetilen, còn gọi là “teflon”. hợp chất này rất bền với nhiệt và các loại dung môi như dầu ăn, nước muối, giấm…

Lịch sử đá quý

Lịch sử đá quý là bảng ghi khoáng chất quý, liên quan đến thời gian sinh của con người. Theo quan niệm cũ, đeo đá quý trùng với tháng sinh thì sẽ có khả năng giúp con người bảo vệ được sức khỏe, vượt qua được tất cả mọi gian truân sóng gió, bảo vệ hạnh phúc gia đình và sự bình yên cho bố mẹ. Lịch sử đá quý được vạch ra và thực hiện hàng trăm năm nay. Hiện nay, nội dung lịch này như sau :

Tháng

Khoáng chất

Màu

Tháng 1

Thạch lựu, Pyrop

Đỏ sẫm

Tháng 2

Thạch anh tím

Tím

Tháng 3

Aquamarin

Xanh lam

Tháng 4

Kim cương

Không màu

Tháng 5

Ngọc bích, khổng tước

Xanh sáng

Tháng 6

Alecxanđrit

Đỏ lục

Tháng 7

Rubi, lan

Đỏ thẫm

Tháng 8

Crizôlit, ngọc thạch

Lục vàng

Tháng 9

Xaphia, lazurit

Xanh tối

Tháng 10

Ngọc bích, tản bạch

Nhiều màu

Tháng 11

Hoàng ngọc, hổ phách

Vàng

Tháng 12

Ngọc lam

Xanh lam

Khí cười

Nhà hóa học Anh Humphry Davy khi nghiên cứu về các oxit nitơ đã phát hiện ra một loại oxit có tính chất sinh lý rất độc đáo – thậm chí… kì cục. Một số người tỏ ra hoài nghi kết quả này. Thế là Davy quyết định sẽ công bố chất khí này trong một buổi dạ hội mà thành viên tham gia gồm toàn các bậc quý tộc Anh cả.

Khi Davy mang một cái bình lớn đến dạ hội thì các quý ông, quý bà trong những trang phục lộng lẫy đắt tiền đã chờ đợi sẵn. Ông mở nắp bình và… một cảnh tượng  vô cùng lạ đã xảy ra…

Các quý bà cười như nắc nẻ, cười đến chảy nước mắt, quặn ruột, mồ hôi ước đầm… đến khổ.

Một số quý tộc lại nhảy đại lên bàn ghế, làm vỡ mấy chiếc bình pha lê tuyệt đẹp của chủ nhà. Một số vị khác lại thè mãi lưỡi ra và không ít vị xông vào nhau ẩu đả…

Và ông Davy, đứng trước cảnh đó, cũng tươi cười tuyên bố loại nitơ oxit mà ông đựng trong bình là N2O : đinitơ oxit.

Và khí này được gọi là khí cười.

Phát hiện chất nổ hóa học chưa từng thấy


Từ một tai nạn ở phòng thí nghiệm Munich (Đức), các nhà khoa học tình cờ phát hiện ra khả năng giải phóng năng lượng của bọt silic. Sau nhiều năm nghiên cứu, họ kết luận chất bọt này có sức công phá gấp 7 lần TNT.

Cách đây 3 năm, tại phòng thí nghiệm ở Munich, người ta chỉ tìm hiểu tính phản quang của bọt Si. Để tránh hiện tượng oxi hóa, mẫu thử được đặt trong môi trường chân không, sau đó người ta hạ nhiệt độ xuống – 1800C. Nhưng do một sự rò rỉ, oxi lọt vào bên trong và ngay lập tức chuyển thành thể lỏng bám trên bề mặt, bọt Si tạo ra một chuỗi phản ứng hóa học dẫn đến sự bùng cháy. “Đó là một tiếng nổ long trời lở đất. Thoạt tiên chúng tôi không làm gì cả, may mà lúc đó không có ai trong phòng thí nghiệm” – Kovalev kể lại.

Sau khi phát hiện thủ phạm chính của vụ nổ là bọt Si, nhóm các nhà khoa học đã lặp lại thí nghiệm trên nhiều lần. Theo  Kovalev, mẫu thử Si sỡ dĩ có khả năng bùng phát mạnh như vậy vì hai nguyên nhân : Thứ nhất nhờ cấu trúc “bọt” nên nó có bề mặt tiếp xúc rộng, thứ hai ở môi trường nhiệt độ – 1800C, oxi hóa lỏng nên khả năng tiếp xúc với bề mặt của bọt Si tốt hơn và toàn diện hơn oxi ở thể khí. Vì vậy chỉ trong một phần triệu giây, mẫu vật có thể bị đốt cháy hoàn toàn giải phóng ra năng lượng vô cùng lớn.

“Bọt Si hoàn toàn không nguy hiểm, để có thể bùng nổ phải có những điều kiện đặc biệt nên nó rất an  toàn trong điều kiện thường” – Kovalev nói.

Hiện giới khoa học đã công nhận kết quả của Kovalev. Tuy nhiên làm thế nào để sử dụng nguồn năng lượng tiềm ẩn trong Si lại là cả một vấn đề. Nhà vật lí Leigh Canham (Mỹ) đã thành lập một phòng thí nghiệm riêng để nghiên cứu chất nổ theo gương Alfred Nobel. Mới đây trên tờ Scientist, ông tuyên bố rằng tương lai sẽ có nhiều vệ tinh chạy bằng Si. Tuy nhiên các đồng nghiệp tỏ ra nghi ngờ giấc mơ này của ông. Họ thừa nhận rằng, trong đám bọt Si có rất nhiều năng lượng nhưng để giải phóng nó người ta cần t0 = -1800C. Mà điều này hoàn toàn không đơn giản khi đưa vào thực tế.

Có thể chế tạo máu nhân tạo được không

Trong máu có mọi thành phần chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể : có chất kích thích, men, kháng thể. Máu vận chuyển oxi, thải khí CO2 trong toàn bộ cơ thể. Máu gắn liền với sự sống con người. Nguồn máu chủ yếu dựa vào sự hiến máu nhân đạo của những người khỏe mạnh mà số người hiến máu là có hạn.

Vậy sao không chế ra máu nhân tạo ?

Năm 1966, tại Đại học Y Cincinati ở Mỹ, giáo sư Clankđã tiến hành thí nghiệm : Đem một con chuột thả vào dung dịch cacbon florua trong bình khí dung. Con chuột bị chìm xuống đáy bình khí dung. Sau một thời gian dài nó không bị chết ngạt mà vẫn sống khỏe mạnh, còn con chuột mà ngâm nước như thế sẽ chết ngạt nhanh chóng. Ông đã kết luận rằng : Cacbon florua có khả năng phân giải cho oxi lớn hơn nước 20 lần. Chuột sống trong dung dịch đủ oxi nên không chết ngạt.

Tháng 4 – 1979, lần đầu tiên trên thế giới công bố việc chế tạo máu nhân tạo : Gồm  các thành phần sau :

  1. Cacbon florua.                                   4. Kali clorua.
  2. Glixerol.                                              5. Canxi clorua.
  3. Natri clorua.                                       6. Natri clorua.

Máu nhân tạo có đặc điểm là :

-Tính chất của cacbon clorua rất ổn định nên có khả năng hòa tan rất nhiều oxi. Khả năng vận chuyển oxi so với protein màu đỏ trong máu lớn hơn và có thể thải được CO2 ra ngoài.

-Máu nhân tạo có những tính chất lí, hóa ổn định, bảo quản từ 1 đến 3 năm có thể tùy ý sử dụng cho bất kì loại máu nào.

Song máu nhân tạo cũng có nhiều nhược điểm :

-Không có bạch huyết cầu, không có tác dụng đề kháng.

-Không có khả năng phòng bệnh.

-Không có khả năng đông khi bị chảy máu.

Để khắc phục vấn đề này các nhà y học và hóa học tương lai có thể làm được không ?

Có thể nhầm lẫn kim cương với thủy tinh

Một lần vào năm 1820 ở London đã xảy ra một chuyện om xòm. Trong một  buổi tối chiêu đãi các nhân vật quyền quý, một người thợ kim hoàn nổi tiếng đã nói với bá tước phu nhân (chủ nhân) : “Thưa quý bà, trên ngón tay bà không phải là kim cương mà là đồ giả”.

Vào năm 1790 Straxơ, thợ kim hoàn người Viên, lần đầu đã điều chế được thủy tinh pha chì, còn gọi là pha lê, với thành phần chì oxit PbO đến gần 50%. Tính chất quang học của thủy tinh này và kim cương khá giống nhau : đều có “tia sáng” và “ánh kim cương”. Những mẫu vụn pha lê làm ta liên tưởng đến các hột xoàn. Những cục pha lê nhỏ gọi là “stras” theo tên Straxơ. Nhìn dạng bên ngoài của stras khó phân biệt với kim cương nhưng nếu tìm hiểu kĩ nó thì thấy độ cứng của nó không đạt : nó không làm xước thủy tinh. Rõ ràng những hạt giả kim cương này đã được đem bán cho bá tước phu nhân và vì thế bà đã đeo hột xoàn lớn nhất !

Để nhuộm lại “Stras”, người ta thêm vào phối liệu nóng chảy một lượng nhỏ (0,0001%) vàng Au dưới dạng hợp chất bất kì của kim loại này và nhận được ngọc rubi giả màu đỏ rực. Cho coban oxit CoO vào thì sẽ biến “stras” thành thủy tinh xanh  đẹp, giống như ngọc xaphia. Còn thêm vào phối liệu khi nấu pha lê một ít crôm (III) oxit (Cr2O3) thì làm cho “stras” giống như ngọc rubi (lumzud).