Home Sáng kiến kinh nghiệm GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG QUA MÔN NGỮ VĂN

GIÁO DỤC KỸ NĂNG SỐNG QUA MÔN NGỮ VĂN

Thư điện tử In PDF

Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người.

I. Khả năng GD kĩ năng sống trong môn học Ngữ văn

Với đặc trưng của một môn học về khoa học xã hội và nhân văn, bên cạnh nhiệm vụ hình thành và phát triển ở HS năng lực sử dụng tiếng Việt, năng lực tiếp nhận văn bản văn học và các loại văn bản khác, môn Ngữ văn còn giúp HS có được những hiểu biết về xã hội, văn hoá, văn học, lịch sử, đời sống nội tâm của con người.'

Với tính chất là một môn học công cụ, môn Ngữ văn giúp HS có năng lực ngôn ngữ để học tập, khả năng giao tiếp, nhận thức về xã hội và con người.

Với tính chất là môn học giáo dục thẩm mĩ, môn Ngữ văn giúp HS bồi dưỡng năng lực tư duy, làm giàu xúc cảm thẩm mĩ và định hướng thị hiếu lành mạnh để hoàn thiện nhân cách.

ð  Vì thế, Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt trong việc giao dục các KNS cho HS.

VD:

1.  Dạy bài Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS

-          KNS:

+ Tự nhận thức: Nhận thức được đây là một căn bệnh thế kỷ có tính chất nóng bỏng của toàn cầu. Từ đó, xác định được trách nhiệm của mỗi cá nhân khi tham gia vào cuộc chiến đấu này, có những hành động thiết thực góp phần ngăn chặn sự lây lan của căn bệnh thế kỷ.

+ Giao tiếp/ trình bày ý tưởng: Thảo luận, trao đổi với bạn bè, thầy cô,...về hiện trạng cuộc chiến đấu phòng chống AIDS hiện nay, tác hại, nguy cơ lây lan của căn bệnh thế kỷ và những giải pháp để góp phần vào cuộc chiến này.

+ Ra quyết định: Xác định những việc cá nhân và xã hội cần làm để góp phần vào cuộc chiến đấu chống lại căn bệnh thế kỉ.

-          Phương pháp/ KTDH: Đọc hiểu, thảo luận, trình bày một phút

2. Bài Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

-   KNS: Tư duy sáng tạo, giao tiếp, ra quyết định lựa chọn ngôn ngữ nói đúng phong cách.

-          PP: Chia nhóm thảo luận, tạo tính huống

VD: Tình huống: Có va chạm trong trường hoặc ngoài đường giữa 2 nhóm bạn

+ Ứng xử 1: Phản ứng gay gắt bằng lời lẽ tục tĩu, thậm chí có thể xảy ra đánh nhau. -> Căng thẳng

+ Ứng xử 2: Không nói năng gì, hai bên bỏ đi. -> Không hợp lí

Có thể đặt câu hỏi: -  Nhận xét gì về ngôn ngữ của các bạn trong ứng xử 1

-  Nếu là bạn thì sẽ chọn cách giao tiếp nào?

Qua bài học lưu ý HS khi sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt trong cuộc sống.

II. Quan điểm GD KNS trong môn Ngữ văn

- Bám sát những mục tiêu giáo dục KNS, đồng thời đảm bảo mạch KT- KN của giờ dạy Ngữ văn.

- Tiếp cận GDKNS theo hai cách: nội dung và phương pháp dạy học, trong đó nhấn mạnh đến cách tiếp cận PP. Nghĩa là thông qua nội dung và PPDH để giáo dục KNS cho học sinh chứ không phải tích hợp vào nội dung bài dạy. Rèn luyện KNS cho HS thông qua các giờ học bộ môn.

VD 1: Truyện An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thuỷ

Qua câu chuyện rèn luyện cho HS các KNS như:

+ Tự nhận thức bài học về tinh thần cảnh giác được gửi gắm qua truyền thuyết.

+ Tư duy sáng tạo: Xác định được mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân và vận mệnh non sông qua câu chuyện và liên hệ với cuộc sống hôm nay.

+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng, cảm nhận của bản thân về mối quan hệ và cách xử lí mối quan hệ giữa tình yêu cá nhân và vận mệnh non sông đặt ra trong câu chuyện

VD 2: Ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa

Các KNS:

+  Tự nhận thức, xác định giá trị nội dung, ý nghĩa của các câu ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa.

+ Giao tiếp, trình bày suy nghĩ/ ý tưởng của cá nhân về quan niệm sống và mối quan hệ yêu thương, tình nghĩa của con người Việt Nam trong những câu ca dao than thân, yêu thương, tình nghĩa.

+ Tư duy sáng tạo: Bình luận, bày tỏ quan niệm cá nhân về tiếng nói yêu thương, tình nghĩa, tình cảm yêu thương, chia sẻ, cảm thông của con người Việt Nam trong ca dao

- Đưa những nội dung GD tiêu biểu cho các dạng bài học, bên cạnh đó có “độ mở” tạo điều kiện cho GV có thể phát huy tính linh hoạt trong việc vận dụng các tình huống GD.

- Giáo dục KNS trong môn học Ngữ văn, theo đặc trưng của môn học, là giáo dục theo con đường “ Mưa dầm thấm lâu” nhẹ nhàng, tự nhiên, không gượng ép.

III. Mục tiêu GD KNS trong môn Ngữ văn

  1. Mục tiêu GD của môn Ngữ văn ở trường trung học phổ thông:

- Trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, hệ thống về văn học và tiếng Việt, bao gồm: Kiến thức về những tác phẩm tiêu biểu cho các thể loại tiêu biểu của văn học Việt Nam và một số tác phẩm, đoạn trích của văn học nước ngoài; những hiểu biết về lịch sử văn học, kiến thức về lí luận văn học cần thiết; những kiến thức khái quát về lịch sử tiếng Việt, các phong cách ngôn ngữ, những kiến thức về kiểu văn bản, đặc biệt là văn bản nghị luận...

- Hình thành và phát triển các năng lực Ngữ văn: Năng lực sử dụng tiếng Việt thể hiện ở 4 kĩ năng cơ bản: nghe, nói, đọc, viết; năng lực tiếp nhận văn học, năng lực cảm thụ thẩm mĩ, năng lực tự học và năng lực thực hành ứng dụng.

- Bồi dưỡng cho HS tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hoá; tình yêu gia đình, thiên nhiên, đất nước; lòng tự hào dân tộc; ý chí tự lập, tự cường; lí tưởng xã hội chủ nghĩa, tinh thần dân chủ, nhân văn; nâng cao ý thức trách nhiệm công dân, tinh thần hữu nghị và hợp tác quốc tế; ý thức tôn trọng, phát huy các giá trị văn hoá của dân tộc và nhân loại.

  1. Mục tiêu GD KNS ở trường THPT thông qua các giờ học Ngữ văn theo phương pháp tích cực

-          Về kiến thức:

+ Nâng cao hiểu biết về các giá trị truyền thống của dân tộc cũng như các giá trị tốt đẹp của nhân loại; góp phần củng cố, mở rộng và bổ sung, khắc sâu kiến thức đã học về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội, về định hướng nghề nghiệp.

+ Nhận thức được sự cần thiết của các KNS giúp cho bản thân sống tự tin, lành mạnh, phòng tránh được các nguy cơ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển thể chất, tinh thần của bản thân và người khác.

+ Nhận thức được những giá trị cốt lõi làm nền tảng cho các KNS.

-          Về kĩ năng:

+ Có kĩ năng làm chủ bản thân, có trách nhiệm, biết ứng xử linh hoạt, hiệu quả và tự tin trong các tình huống giao tiếp hàng ngày.

+ Có suy nghĩ và hành động tích cực, tự tin, có những quyết định đúng đắn trong cuộc sống.

+ Có kĩ năng quan hệ tích cực và hợp tác, biết bảo vệ mình và người khác trước những nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn và lành mạnh của cuộc sống (tệ nạn xã hội, HIV/AIDS, bạo lực, nạn xâm hại tinh thần, thể xác....); giúp HS phòng ngừa những hành vi, nguy cơ có hại cho sự phát triển của cá nhân.

-          Về thái độ:

+ Hứng thú và có nhu cầu được thể hiện các KNS mà bản thân đã rèn luyện được đồng thời biết động viên người khác cùng thực hiện các KNS đó.

+ Hình thành và thay đổi hành vi, nhất là những hành vi liên quan đến lối sống lành mạnh, có trách nhiệm với bản thân, bạn bè, gia đình, cộng đồng.

+ Có ý thức về quyền và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, nhà trường và xã hội; có ý thức định hướng nghề nghiệp.

V. Cấu trúc bài soạn

A.Mục tiêu bài học:

-Kiến thức:

-Kỹ năng: + Kỹ năng chuyên môn:

+ Kỹ năng sống:

-Thái độ:

B.Cách thức tiến hành: Đây là bước GV lựa chọn các phương pháp/KTDH tích cực có thể sử dụng trong quá trình dạy

C. Phương tiện dạy học: Giáo án, SGK, đồ dùng phục vụ giảng dạy (máy chiếu, bảng phụ, phiếu học tập,..)

D.Tiến trình dạy học:

Giáo án minh hoạ

Chiều tối(Mộ)       - Hồ Chí Minh -

I.Mục tiêu bài học:

-Kiến thức: HS cảm nhận được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên qua đó hiểu được vẻ đẹp tâm hồn Bác.

-Kỹ năng: + Kỹ năng chuyên môn:

Đọc - hiểu tác phẩm trữ tình.

Phân tích một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt theo đặc trưng thể loại.

+ Kỹ năng sống:

Giao tiếp: Giữa thầy giáo và HS, HS với văn bản, HS với HS.

Tư duy sáng tạo: Vận dụng hiểu biết của cá nhân về đặc trưng thể loại để khai thác vẻ đẹp TN và con người thông qua từ ngữ, hình ảnh, biện pháp tu từ được sử dụng trong bài thơ.

Tự nhận thức: Thông qua tìm hiểu bài thơ GV định hướng cho HS biết cảm thông, chia sẻ với con người lao động trong cuộc sống.

-Thái độ: Yêu thiên nhiên, trân trong nhân cách cao đẹp của HCM.

II.Cách thức tiến hành:

GV tổ chức giờ dạy bằng phương pháp/KTDH tích cực có thể sử dụng: Động não, đặt câu hỏi, thảo luận, trình bày 1 phút

III.Phương tiện dạy học: Giáo án, SGK,...

IV.Tiến trình dạy học:

1. Tạo tâm thế cho HS thông qua lời giới thiệu bài mới hoặc đặt câu hỏi giúp HS tích hợp kiến thức đã học để tìm hiểu nội dung bài học mới.

2. Bài mới:

Hoạt động 1: Tìm hiểu khái quát về tác giả, bài thơ.

GV có thể đặt câu hỏi yêu cầu HS trả lời những thông tin cần thiết về tác giả và tác phẩm

Hoạt động 2: Tìm hiểu bài thơ

* Hai câu đầu:

- Đối chiếu bản dịch thơ với nguyên tác chữ Hán

+ Bỏ mất chữ (cô vân)-> nhẹ ý thơ

+ Hai chữ trôi nhẹ cũng không lột tả được dáng vẻ lững lờ, chầm chậm của đám mây chiều...

GV đặt câu hỏi phát hiện về ý thơ

Em hãy cho biết nội dung của hai câu thơ đầu? Hai thơ tả cảnh gì? ở đâu? vào lúc nào?

- Cảnh thiên nhiên nơi rừng núi lúc chiều muộn:

Bức tranh thiên nhiên nơi rừng núi được dựng lại bằng những hình ảnh nào?

+ Một cánh chim chiều mỏi mệt bay về tổ

+ Một chòm mây lẻ loi, cô đơn, chậm chậm trôi ngang bầu trời

Hai hình ảnh là thông điệp để tả cảnh chiều. Đây là những hình ảnh quen thuộc vẫn thường gặp trong thơ cổ mỗi khi tả cảnh chiều -> Biểu hiện nét cổ thi trong bài thơ. Đồng thời nó mở ra không gian khoáng đạt

Theo em, hai câu thơ này ngoài việc dựng lên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt còn gợi   ra được điều gì trong tâm hồn, trong nỗi niềm tâm của Bác?

+ Tình yêu thiên nhiên

+ Cảnh ngộ của người tù trên bước đườmg đi đày

Theo em những hình ảnh trên đã được Bác tái hiện bằng bút pháp nghệ thuật quen thuộc nào trong thơ cổ?

-> Bút pháp tả cảnh ngụ tình. Bằng vài nét chấm phá tác giả đã ghi lại một cách chân thực cảnh thiên nhiên miền rừng núi lúc chiều muộn. Qua đó, ta bắt gặp một tâm hồn giàu cảm xúc  trước thiên nhiên và sự sống, một nghị lực phi thường của nhà thơ, người tù người chiến sĩ cộng sản HCM và đó cũng là chất thép trong thơ của Bác.

=> Qua việc tìm hiểu nội dung của hai câu thơ trên đã giúp cho HS KNS: Giao tiếp, tư duy sáng tạo.

* Hai câu cuối:

Nếu hai câu thơ đầu bằng bút pháp cổ điển Bác đã dựng lên bức tranh thiên nhiên khoáng đạt mang đậm nét cổ thi thì hai câu thơ cuối Bác đã sử dụng bút pháp hiện đại dựng lên bức tranh về cuộc sống con người.

So sánh phần phiên âm với bản dịch thơ, em thấy có từ nào cần chú ý?

+ Chữ Tối

Hình ảnh nào gợi lên cuộc sống của con người ở hai câu thơ cuối này?

+ Hình ảnh thiếu nữ xay ngô

+ Hình ảnh lò than rực hồng

So sánh hình ảnh người thiếu nữ trong thơ xưa với người thiếu nữ trong thơ Bác ta thấy có gì khác nhau không?

+ Người phụ nữ trong thơ xưa thường được ví" Liễu yếu đào tơ", thường sống trong cảnh" phòng khuê khép kín" và chỉ biết " Cầm, kì, thi, hoạ"

+ Người thiếu nữ trong thơ Bác lại gắn liền với công việc lao động bình dị, đời thường, khoẻ khoắn, đầy sức sống. Xóm núi trở nên đẹp hơn, ấm áp hơn phải chăng chính là sự xuất hiện của cô gái. Vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của người thiếu nữ với tư thế lao động (Xay ngô) là tâm điểm của bức tranh thiên nhiên buổi chiều.

Hình ảnh của Cô gái xay ngô được tác giả tả NTN?

+ Cô gái miệt mài xay ngô, và hình như không chú ý đến những gì xung quanh. Ma bao túc- bao túc ma hoàn: Khi xay ngô xong "lò than đã rực hồng"

Hình ảnh lò than rực hồng có ý nghĩa gì?

+ Hình ảnh "lò than rực hồng" hiện lên trong đêm tối càng làm nổi bật hình ảnh người thiếu nữ. Toàn bộ cảnh thiên nhiên đang chìm trong màu xám nhạt chuyển sang màu tối. Cũng vì thế hình ảnh lò than rực hồng có sức lôi cuốn đặc biệt và mang nhiều ý nghĩa.

Em hiểu chữ "hồng" trong bài thơ này NTN?

+ Bài thơ kết thúc bằng chữ "hồng" Soi rõ vẻ đẹp của người thiếu nữ, toả ánh sáng và hơi ấm xua đi cái buồn vắng của bức tranh chiều tối nơi rừng núi. Đó chính là ánh lửa hồng của cuộc sống đầm ấm, hạnh phúc gia đình, ánh lửa hồng của sự sống, của niềm lạc quan tin tưởng vào tương lai, vào sự đổi thay của sự nghiệp CM.

Qua hai câu thơ cho thấy Bác là người NTN?

=> Cái nhìn ấm áp, đầy tình yêu thương, trân trọng của Bác đối với con người lao động. Bác vui với niềm vui của cuộc sống thanh bình, sung túc của con người miền sơn cước.

Bác luôn vượt lên hoàn cảnh khắc nghiệt của hiện tại hướng tới tương lai

Hoạt động 3: Tổng kết

KT trình bày 1 phút được vận dụng vào cuối giờ sau khi GV và HS đã cùng tìm hiểu bài thơ, giúp HS hình thành những kiến thức cơ bản về ND và NT kết hợp với KTĐG.

3.Thực hành, luyện tập

CH: Bài thơ có sự vận động từ ý thơ đến tư tưởng của bài thơ, hãy làm sáng tỏ ý kiến trên?

Em hãy chỉ ra màu sắc cổ điển và tinh thần hiện đại trong bài thơ?

Cập nhật ( 10:59, 01/12/2011 )  

Hình ảnh về trường

 

Đề xuất một dạng đề thi tốt nghiệp 2014

 

Nét đẹp nữ nhà giáo Thủ đô

 

 

TƯNG BỪNG LỄ KỶ NIỆM 83 NĂM NGÀY THÀNH LẬP ĐOÀN THANH NIÊN CỘNG SẢN HỒ CHÍ MINH (26.3.1931 - 26.3.2014)

Thứ sáu, 18 Tháng 4 2014

LIÊN KẾT WEBSITE

 








 


Số lượng truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay471
mod_vvisit_counterHôm qua814
mod_vvisit_counterTuần này3827
mod_vvisit_counterTuần trước3882
mod_vvisit_counterTrong tháng10955
mod_vvisit_counterTháng trước23125
mod_vvisit_counterTổng1043362

Truy cập (20 phút trước): 9
IP của bạn: 54.198.34.238
,
Hôm nay là: 18-04-2014
Chúng ta có 26 khách trực tuyến